Huy Bom & Sam [Trang chủ]

Kimono trong rừng thẳm

Posted in Uncategorized by huyminh on 02/05/2010

Sugino – nhiếp ảnh gia Nhật Bản, một ngày cuối thập kỷ 80 của Thế kỷ trước đã cùng cán bộ văn hoá vùng cao có tên Trần Hữu Sơn đi đến xứ sở Mông Xanh. Sugino cần ảnh tộc người ít ỏi này cho triển lãm các dân tộc thiểu số Đông Nam Á, một cuộc trình diễn của riêng ông. Vùng rừng xa xôi ấy, người Mông Xanh bơ vơ mấy nóc nhà, tiếng nói không một dân tộc nào nghe được, kể cả chính những người Mông khác sống đông đảo xung quanh; ăn bát gỗ, dùng thìa gỗ, ở nhà gỗ, mặc kimono. Khi đó, Sugino đã nói với cán bộ vùng cao đồng hành rằng, họ không khác gì người Nhật đầu thế kỉ XX. 18 năm rồi, nơi này, Trần Hữu Sơn chưa quay lại…

Giờ đã là một tiến sĩ Văn hoá vùng cao, là giám đốc Sở VHTT tỉnh Lào Cai, da chớm mồi, tóc muối tiêu, ông Sơn vẫn còn nhớ hành trình đến xứ Mông Xanh ngày ấy, nơi xuyên rừng thêm 12 giờ, theo các đỉnh đồi ken dày cổ thụ, sẽ đến Phan xi păng, đỉnh Đông Dương. Và còn nhớ nguyên vẹn những lời Sugino nhận xét, và cả lời truyền khẩu ác nghiệt nhất vùng Tây Bắc: Người Mông Xanh ăn thịt người, mà khi đến đất này ông Sơn mới nghe nói tới. Ông Sơn ngồi nhớ lại: Cha cố Samina đã từng viết trong sách năm 1924, người Mông nói chung lại có nguồn gốc từ Hungari. Vậy Samina mà Sugino ai đúng? Những người Mông Xanh ấy đến từ đâu?

9h sáng, xe từ Cốc Lếu đến Văn Bàn chuyển bánh. Chiếc xe tả tơi và cáu bẩn như túp lều của một tay hành khất thâm niên dày dặn. Trần xe lòi cốt sắt, ghế tài xế lòi lò xo. Ông cụ ngồi cạnh ôm khư khư chiếc đài Massan, mỗi lúc xe đi vào núi khuất, sóng nhà đài yếu hẳn lại rột roẹt rên lên như hen suyễn. Khách quấn sà cạp leo lên xe mỗi lúc một đông. Qua mỗi trạm CSGT, tài xế lại hô “ngồi thụp xuống”. Khách nghiêm túc đè lên người nhau, xà cạp chen chúc với dép tổ ong. Thi thoảng nhà xe dừng lại chuyển cho chủ một ngôi nhà nào đó thấp thoáng sườn đồi một gói nilon buộc chặt và mấy chữ thư tay. Đường vào đất Văn Bàn năm 2007, vẫn có bóng dáng như một “đường thư” của Trường Sơn thời chiến.

Qua trạm viba có tên 360 Cổng Trời, đến thung lũng Văn Bàn, thiên đường như của các loại xe máy mà tôi ở miền xuôi chưa từng nhìn thấy: Skygo, Oasis, Henge, Rosino, Aduka, Focol, Romeo, Traenco, Vyem, Sodem, Amigo… Lê Thanh Bảo, Trưởng phòng Văn hoá huyện người tròn lẳn, giọng lơ lớ tiếng Kinh. Anh Bảo chỉ hai cán bộ người Mông Xanh có trình độ học vấn cao nhất Việt Nam đi làm cho Nhà nước: Lý A Páo – Phó trưởng ban dân vận Huyện uỷ và Lý Thị Ngân, Huyện hội phụ nữ, cả hai làm ở huyện, anh Páo đang ốm.

Lý Thị Ngân sinh năm 1975, bố là cán bộ tăng cường huyện, mẹ là y sỹ xã. Ngân là chị cả, đứng đầu một chuỗi 6 em mù chữ ngày nào còn không nói nổi một chữ tiếng Kinh, và không hiểu sao lúc nào cũng nơm nớp nỗi sợ, hễ cứ thấy bác sĩ đến là chạy tọt vào nhà đóng cửa. Năm 1993, có người đến hỏi Ngân về làm vợ, nhưng bố mẹ không đồng ý, Ngân cũng không đồng ý. Cô gái Mông Xanh muốn được học hành. 18 tuổi, Ngân bắt đầu học lớp 1. Đến bữa cơm, muốn Ngân ăn cô giáo phải dắt tay đi. Năm 1994 bố về mất sức, xin cho con đi học bổ túc, rồi hết lớp 5 vào làm tạp vụ ở Huyện uỷ. Chỉ một năm vào biên chế, học bổ túc văn hoá lớp 5 ở Hà Tây, về huyện làm hai năm rồi sang Hội Phụ nữ. Giờ ở xã quê nhà Nậm Xé, trẻ con Mông Xanh hết lớp 9, học giỏi hơn Ngân chỉ đếm trong bàn tay.

Ngân làm việc giữa cơ man nào là bằng khen, chiều chiều đánh cầu lông, tối tối về với ông chồng người Tày làm điện ở Nông trường Văn Bàn và con trai Nguyễn Trọng Nghĩa hơn 3 tuổi. Con trai họ Nguyễn, chứ không phải họ Lý, Giàng, Vàng, chỉ có ba họ loanh quanh lấy lẫn nhau ở cái nơi rừng thẳm cách trung tâm huyện khoảng 50 cây số ấy.

Ngân hát, tiếng vang khe khẽ: “Diềng phá diềng lồ, cự lêu…”. Hát tiếng Mông Xanh mà không hiểu, vì thuộc lỏm. Nghe các cụ bảo, lời hát ấy than thở chuyện con trai, con gái yêu nhau rồi chia tay.

Câu chuyện cô gái tên Ngân ấy kể, đau xót nhất là về người Mông Xanh tự tử. Người có bao nhiêu đâu mà tự tử đến độ đầu bản nghe tiếng khóc, cuối bản cũng nghe tiếng khóc. Chẳng cần gì nhiều, bấn lên là tự tử, cãi cọ vợ chồng là tự tử. “Do sự ít hiểu, không thuyết minh với ai, nghe nhiều quá khó chịu trong người là tự tử”- Ngân kết luận.

Xứ Mông Xanh chưa đầy trăm hộ dân mà năm 2006 có 5 vụ tự tử. Xã đội trưởng Lý A Páo chết vì treo cổ, chân vẫn còn quét đất. Bốn người khác ăn lá ngón, sinh năm từ 1976 đến 1986, đều trẻ cả. Nhà Ngân có hai bà chị dâu tự tử, một con chị gái bố, một con anh trai bố, chết cách nhau đúng một ngày.

Vợ Chủ tịch xã Vàng A Lơ là Vàng Thị Kho sinh năm 1976, đi đám ma em thím về, giận chồng hay uống rượu, không làm chủ được người, nghĩ quẩn, ra sau bản bứt lá độc ăn. Lá ngón, nhai giập nuốt nước chỉ 30 phút sau là chết. Uống thêm nhiều rượu chết càng nhanh. Thi thể tím đen nhưng mắt mũi máu nhỏ tong tong.

Lý A Su, đi bộ đội về, ở nhà hay rượu, vợ là Lý Thị Chư sinh năm 1979, nhà khá, hai con trai, đùng một cái chết. Ngân lên đến nơi, nghe nói vì tức chồng không thương, không chịu khó làm ăn, là chết. Trước đây, Chư đã một lần tự tử do chồng nghiện, đi cai 3 năm, có thai bắt nạo, lại tái nghiện, đêm hôm hành hạ bắt khai đi với ai mà có chửa. Cứ thế, chồng bắt nói chuyện cả đêm. Nên Chư chết. Su bây giờ buồn bã, nhà cửa không trông nữa, nay đây mai đó, lang thang.

Theo hướng đi Ngân chỉ, tôi nhảy đại lên một chiếc có nhãn hiệu Vyem nào đó, ngồi sau lưng xe ôm người Tày, chạy men quốc lộ 279, men suối Nậm Mu ngầu đục mầu đất đỏ đãi vàng, thẳng hướng Mông Xanh.

Tu Hạ – trung tâm xã Nậm Xé, khi trời sâm sẩm tối. Chủ tịch ốm nói không ra tiếng, Bí thư đi vắng, Phó chủ tịch đi học lớp 9 ở huyện. Tôi về ở nhà Trưởng Công an xã Bàn Phúc Nguyện ở. Một căn nhà thấp le te như tất cả các căn nhà khác, đều sợ làm nhà cao vì lốc xoáy. Ngoài cửa móc thêm biển thu mua chổi chít. Trên tường nhà treo ảnh bố mặc comple, mẹ mặc luy hấu, do người xuôi lên chụp và “lồng ghép” ảnh.

Trưởng Công an xã người Dao đi một vòng mời thêm Nguyễn Công Bính, cán bộ chi cục Thú y tỉnh tăng cường về và Triệu Quốc Chưởng, người Tày, cán bộ văn phòng xã, xuống uống rượu ăn cơm, trong ánh sáng điện lưới kéo từ bên xã khác về, lập loè như đom đóm đực. Ở đây, Chưởng chưa từng thấy cặp nào bỏ nhau. Người sống luôn có đôi, buồn mới chết. Cả xã năm qua duy nhất có mỗi một vụ trộm trâu, không mại dâm, không ma tuý, không đánh giết, không đào đãi vàng, cho dù bãi vàng Minh Lương nằm ngay bên cạnh.

Nơi này nhiệt độ có thể tụt 7 độ trong một giờ, trâu còn chết rét. Buổi sáng lạnh 7 độ, 9 độ, tay khách bắt chuồn chuồn. Bính về đây đã 70 ngày, ngày nào cũng rượu. Vừa để đỡ lạnh, vừa để đỡ buồn. Thiếu rượu, như xe thiếu xăng. Vợ Trưởng Công an xã, bà Triệu Thị Nảy, sinh năm 1953, hay 1955 gì đó, vì bà cũng không nhớ, xủng xẻng tiền xu trên áo Dao, liên tục đòi đổi chén: “Tao là phụ nữ mà còn uống được cơ mà”. Đổi chén, đổi chén, đổi chén… Rượu thì nóng, ớt thì cay, chả mấy chốc đã say như chuồn chuồn bay.

Sáng hôm sau, chúng tôi khởi hành vào xứ Mông Xanh, đường vào trơn trượt, sạt lở, trúc mía nằm vắt ngổn ngang đường. Gặp khoảng 20 người gồng gánh ra về sau một đám cưới, cô dâu chạy theo hú chia tay tới mấy cây số, rồi đứng thút thít ở đỉnh đèo. Lại gặp hai chị 4 nách 4 chai rượu, vừa ra cầu tre vắt ngang suối tiễn, tò mò hỏi khách rằng: “Mày là người Kinh hay người Padí? Vậy à, thế mày ở Hà Nội hay là xa lắm?” Hỏi trong tiếng suối gầm thét xung quanh.

Vàng A Dình, Chủ tịch Hội Nông dân xã, nhà giữa bản. Họ Vàng ở Tu Thượng được bà con chia làm hai nhóm cho dễ phân biệt: Vàng “màu” và Vàng “vua”. 39 tuổi, sinh năm Mậu Thân 1968, không rõ Dình thuộc nhóm Vàng gì. Nhà có 3 con, thằng cả sáng sớm cuốc bộ về xã học, sắp vượt qua trình độ lớp 6 của bố nó đến nơi. Nhà Dình treo lưới, mũ mây xạ phang chóp nhọn, gác thóc trên mái, có máy khâu, quạt, tivi, loa Hifi 150w chạy thuỷ điện. Tivi Panoson, loa Sunvi, quạt Viou, máy khâu con bướm Butterfly, áo khoác Jangjue, ăng ten chảo buộc chai nhựa để nước khỏi vào. Một người Kinh vào bản bán cá biển đông lạnh cứng đơ, rao một câu rất lạ rằng: “Ai mua cá không có tăng trọng đây”. Sương mù đặc quánh, ùa cả vào nhà. Thời tiết mùa này dễ chịu, gặp buổi gió “ruồi vàng bọ chó” bên Than Uyên thổi về, rừng có thể cháy, đồi nương có thể cháy, người chảy máu cam.

Tu Thượng có 30 hộ, Mông Xanh hết, nằm giữa đại ngàn mấy mươi năm không lấy người ngoài bản. Dình vừa đi thi giọng hát hay ở tỉnh có giải về, thấy bảo hát hay lắm. Nghe đến hát, lập tức Dình tắt TV, cắm míc, bắt đầu ngân nga chầm chậm một bài về mùa đông “Xì cạp lài, tà chí pà lồ…”. Rồi Dình ngồi thừ người ra dịch, còng cà còng cành, bập bà bập bõm: “Mùa này mùa đông, người vùng cao khó chịu, vượn rét không có hang, quả rụng hết, khổ nhất con vượn rồi. Chịu băng tuyết, tìm quả trái mùa. Đành chờ tháng 2, tháng 3 mùa xuân về mới được sung sướng.” Dình chỉ biết 2 – 3 bài thôi, vì các cụ đã hoá ra ma hết cả. Rồi Dình lại hát: “Tình yêu đôi ta từ bé không gặp nhau, lớn không biết nhau. Thấy nhau đêm nay, ta quen nhau, chưa biết mẹ em yêu khách hay bố em yêu khách. Em mở cửa ra đón khách, dọn bàn ghế ngồi đợi người đời mình đến. Đi ba ngày lội suối ướt hết quần, hết áo”.

Vợ Dình xua trẻ con ra đồi tóm cổ một con gà xương đen về mổ thịt. Rượu lại nóng, ớt lại cay… Dình kể chuyện nhà Vàng A Chí tròn 30 tuổi, nhà ở dưới chân đồi, có vợ là Lý Thị Xè kém chồng một tuổi, có với nhau được ba mặt con trai. Đầu năm 2006, ăn tết xong xuôi, giữa tháng Giêng âm chồng bảo đi phát nương trồng gừng, vợ lại đòi đi lấy chổi chít, rồi thế nào mà chồng lại đòi đi trồng ngô. Cãi nhau không to đâu. Buổi sáng sau khi 3 con đi học, Xè ra sau vườn ăn lá ngón. Ăn về không cho chồng đi làm, cứ ôm nhau múa múa hát hát. Chồng bảo: “Mày điên à vợ?” Vợ bảo: “Sao em nhớ anh thế”. Một lúc sau đã thấy cấm khẩu rồi. Ăn nhiều lắm, mắt mũi chảy máu, mặt thâm đen, cho uống nước mì chính, nước chua vẫn không cứu được.

Chí nửa chết nửa sống từ đó. Hằng ngày nấu cơm cho ba con trai ăn, rồi giặt giũ phơi phóng ở suối. Nhà phơi toàn quần áo đàn ông ngay đầu bản.

Dình kể chuyện Xã đội trưởng, Đảng uỷ viên HĐND xã, cũng ba con, vì giận vợ nên treo người lên rồi ghì chết, chân vẫn chạm đất, dáng chết ngồi lom khom. Cái chết duy nhất không dùng lá ngón.

Tôi và Dình trày trật trèo dốc núi ra ngay sau bản tìm lá ngón, thứ lá tử thần mà người ở đây gọi là “cô tồ là – thuốc chết”. Đã nghe nói quá nhiều mà chưa từng nhìn thấy. Dình giật một búi, cách nóc nhà Dình chỉ 40m. Hai lá đủ giết chết một người, Dình bảo, từng này đủ để khiến mấy chục nóc nhà Mông Xanh ở Tu Thượng này thiệt mạng. Tôi ngắt một ít mang về xuôi làm tư liệu, vợ Dình nhìn thấy dậm chân bành bạch: “Sờ vào nhiều là ma nó khiến mình buồn buồn, mình ăn lá”. Cái dốc đầy lá ngón ấy, như hàng chục con dốc khác quanh xứ Mông Xanh, tôi thấy Vàng A Lơ, sinh năm 1982 đứng cạnh vợ là Lý Thị Vơ, sinh năm 1969, bế một đứa trẻ trên tay. Lơ là con mồ côi, từng hư, hay rượu chè, bị bác Bí thư mắng, vậy là lấy lửa đốt trường năm 16 tuổi, trở thành người đi tù duy nhất xứ Mông Xanh. Đi tù về lấy người già chứ không lấy người ngoài xứ.

Lời truyền khẩu ác miệng nhất vùng Tây Bắc – “Mông Xanh ăn thịt đồng loại” có từ đâu? Lý Thị Ngân, cô gái Mông Xanh duy nhất làm ở huyện, nhớ chuyện bà cụ nội Vàng Thị Ly, 94 tuổi kể với mình rằng, xưa các cụ thời Pháp hay bắn được căng, cho vào luộc, thò hai bàn chân lên chảo sắt. Pháp khám, sợ bị bắt tội không cống nạp, đành nói đang luộc cháu bé bị ốm để ăn. Mở nồi thấy hai chân trắng nhởn thò ra từ chảo nước sôi, từ đó sinh chuyện. Tin đồn Mông Xanh ăn thịt người cũng từ đó loang đi khắp dãy Hoàng Liên. Tôi tra chính sử, thấy cường hào Văn Bàn đặt ra các lệ để bóc lột đến cùng người dân trong vùng chúng cai quản, phạt vạ nặng những người có thai trước khi lấy giấy giá thú. Cả bên trai bên gái mỗi bên đều phải nộp vạ 5 đồng Đông Dương. Năm 1941, dân kêu lên toà sứ Yên Bái nhiều lần, công sứ Cơretxông mới cho huỷ lệ này. Chúng còn quy định: mùa cá vật đẻ, lấy được mật ong, săn bắt được thú rừng dân cũng phải đem biếu. Khi nhà dân mổ lợn, trâu, bò, Chánh tổng lấy một đùi trước, phó tổng, lý trưởng mỗi người lấy một bên thăn, phó lý lấy một khanh bí, các kỳ hào kỳ mục khác mỗi người lấy vài cân thịt loại ngon. Người Mông Xanh phải nói dối chuyện ăn người là có thể. Tài liệu do Huyện uỷ Văn Bàn cung cấp cũng có một chi tiết nhỏ nói về chuyện ăn người như sau: “Khi người Việt Nam Quốc dân đảng vào Văn Bàn, chính quyền của ta lập ra từ 5/8/1945 do Nguyễn Đình Sâm làm Chủ tịch trở thành chính quyền của Quốc dân đảng, trung đội võ trang của huyện trở thành trung đội quốc dân do Nguyễn Đình Tấn chỉ huy. Dựa vào bọn Tưởng và Quốc dân đảng, bọn Nguyễn Đình Tấn và các tên chánh tổng cũ ở Võ Lao, Dương Quỳ, Chiềng Ken đã dùng nhiều thủ đoạn nhằm dụ dỗ, cưỡng ép nhân dân phải theo chúng. Chúng bắt thanh niên trai tráng vào quốc dân quân và bắt phải đi học trường quân chính do Quốc dân đảng lập ở Bảo Hà, bắt dân các bản nộp lương thực, thực phẩm cho chúng. Đặc biệt, chúng tung tay chân đi lùng bắt cán bộ ta và những người có cảm tình với Việt Minh, dùng các cực hình tra tấn, tàn sát rất dã man để uy hiếp tinh thần của nhân dân. Tháng 11/1945, chúng cho các tên Lương Văn Vân, Nguyễn Phúc Thăng, Phạm Văn Lạn, Hoàng Văn Lượng (Võ Lao) và một số người khác bắt hai người trong lực lượng của ta ở Nậm Máng (cửa ngòi Mả, bản Ngầu). Chúng giết, moi gan ăn, chặt đầu cho vào sọt bêu lên các cọc cao bắt dân đến xem, còn xác thì vứt xuống suối. Hai người bị ăn gan ấy đến tận bây giờ vẫn không rõ danh tính và quê quán… Chúng treo giải thưởng và tuyên bố: Nếu ai cắt được 2 tai của Việt Minh thì được thưởng 12kg muối, ai lấy được đầu cán bộ thì được thưởng 112kg muối. Đầu không còn tai thì chỉ được thưởng 100kg, cùng với vải vóc, lương thực, thuốc lào…”. Vậy là đã rõ, ai mới là kẻ ăn người. Người Văn Bàn từng theo tướng Trần Nhật Duật đánh Nguyên Mông, theo tướng Hoàng Bẩy đánh giặc Vân Nam, tham gia nghĩa quân thập châu miền núi nhiều lần kéo về Hà Nội cùng Lưu Vĩnh Phúc giết Francis Garnier 1873 và Henri Riviere 1883. Ngay từ 1886, Pháp đã phải cho quan tư Gaudienh chỉ huy một trung đội viễn chinh da đen lên đánh Văn Bàn. Phao tin chia rẽ là một chiêu trong chính sách “chia để trị” thường gặp của thực dân. Mông Xanh chịu tiếng oan do Pháp rêu rao mà trở nên xa cách với tất các dân tộc khác, phải loanh quanh lấy lẫn nhau, cận huyết rất nặng nề. Chuyện Mông Xanh phải tụ lại với nhau, lấy lẫn nhau, như Vàng A Lơ phải lấy người vợ hơn mình 14 tuổi là như thế. Chuyện một lời đồn mà tai hại tới mấy đời là như thế. Đem chuyện lái xe ôm người Tày đưa tôi đến đất này hỏi Dình rằng, có phải hàng năm người Mông Xanh vẫn nặn bột hình người thờ ma rồi ăn thay thịt thật? Mắt Dình vằn lên những tia lửa nhỏ.

Theo một số thông tin không chính thức, người Mông Xanh có thể đến Việt Nam cách đây trên 700 năm, còn theo người già ở xứ sở này, tổ tiên họ đã đến đây từ rất lâu, khoảng 50 đời gì đó. Lục tung sử sách, không có một chữ nào nói tới xuất xứ của tộc người này. Hưng Hoá lý lược chỉ viết: Cổ xưa Hưng Hoá thuộc Văn Lang, thuộc bộ Việt Thường (Văn Lang có 15 bộ). Năm 1389 đời Trần Thuận Tông đổi thành trấn Thiên Hưng… Đại Nam nhất thống chí quyển XXII tập IV chỉ viết: Văn Bàn nguyên là đất châu Đăng thời Lý, có tên chính thức trong thư tịch quốc gia từ năm 1015. Từ đời Trần trở về trước là huyện Văn Bàn, đến đời Lê Hồng Đức đổi huyện là châu Văn Bàn. Thổ tù phụ đạo là họ Đèo và họ Lương chia nhau quản trị, đến đời Gia Long cũng theo như thế…

Hưng Hoá phong thổ lục chỉ viết: Năm Quý Tỵ đời Cảnh Hưng, làm sổ binh lệ ở 8 động, số đinh 97 suất rưỡi. Động Khánh Yên có mỏ lưu hoàng và mỏ bạc, phong tục ngôn ngữ, văn tự và y phục cũng giống như dân các huyện. Núi Man Khoá và Man Nương ở châu Văn Bàn có sản xuất vàng… Dư địa chí của Nguyễn Trãi chỉ viết: châu Văn Bàn có 40 động. Đất Văn Bàn có nhiều mỏ kim sa (vàng cám lẫn trong cát)…

Ba người xuôi vào nhà mua thóc, Dình lẩm bẩm “Lần đầu chắc cũng là lần cuối. Ba tấn thóc 6 người ăn, một vụ một năm, bán vì tình cảm”. Lo thiếu thóc chứ không lo thiếu tiền, tháng 6/1993 Dình cởi áo đổi lấy 115 cây thảo quả ở Nậm Chầy. Giờ mỗi nhà 3-10 triệu tiền thảo quả. Nhà Dình 24 triệu thảo quả năm qua. Cũng cái năm lịch sử ấy, cả bản còn chưa biết xẻ gỗ, người đàn ông đi nhiều này đã mua cưa về làm nhà lợp ngói xi măng làm hộ cho cả bản không lấy tiền. Những ngôi nhà gỗ Sugino nhìn thấy cuối thập kỷ 80 giống hệt nhà Nhật Bản đã không còn nữa. Ông bác của Lý Thị Ngân, nhà có cái chậu đồng duy nhất cũng đã đem bán mất. Người Mông Xanh có đến từ đất nước mặt trời mọc như nhiếp ảnh gia Nhật Bản Sugino đã nói? Tất cả đang chờ đợi nghiên cứu của TS Trần Hữu Sơn, người đã chỉ lối cho tôi đến xứ sở này.

Suối Nậm Tu Thượng xưa có rất nhiều cá, giờ người nhiều hơn cá, nhưng mới chỉ gấp đôi cả trâu lẫn bò thôi. Ấy là cách so sánh của trưởng bản Lý A Hoà, 34 tuổi. Tháng 5, tháng 6 âm không ai qua suối được, lũ trôi trâu, trôi cả cầu tre. Đường còn chưa có nói chi cầu. Tu Thượng chỉ có 216 khẩu, 68 trâu, 68 bò. Năm 2006, bản có thêm 5 đứa trẻ con. Và cũng mất đi từng ấy người vì tự tử.

Dình cứ dúi vào bát tôi cái cẳng gà xương đen, rồi “phua chia” uống rượu. Ừ thì cạn, rồi tôi còn phải đi 500 cây số về xuôi, về một chỗ xa xôi…

Ghi chú: Người Mông Xanh sống cách TP Lào Cai khoảng 140 km về hướng Nam, gần trục đường 279, có thể đi sang Than Uyên khi ngược đèo Khau Cọ, hoặc xuôi về đền ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà. Truyền thuyết về rượu tương tư ở đây, sách Hưng Hoá đại chí viết về Văn Bàn có đoạn: “Cày cấy chỉ có vụ thu. Tháng 2- 3 thì cày, tháng 5 – 6 thì gieo trồng, tháng 9 – 10 thu hoạch. Đời xưa bảo: xuân cày, hạ cấy, thu gặt, đông cất chứa là như vậy đó. Khí hậu rét nhiều, nóng ít, mây tụ quanh chân núi, sương mù bao phủ cả cành cây. Mặt trời đã lên cao mà chướng khí vẫn chưa tan hết. Trên rừng lá cây rụng nhiều, khe rãnh ngổn ngang. Sau cơn mưa những lá mục tụ thành chướng khí, ít khi có nạn hạn, lụt. Ở một số vùng cao còn có tuyết. Thổ sản có nhiều thứ, nhất là thuốc lào. Các châu huyện đều có cây này, nhưng mọc ở Châu Tấn (Than Uyên) và Văn Bàn thì tốt nhất. Dân ở đây chưa biết nấu rượu mà dùng thứ cỏ tương tư, giã hoà với nước, uống vào thì da và mặt đỏ lên, người nhẹ lâng lâng, uống nhiều thì say. Hiện chưa biết cỏ tương tư là cây gì. Từ Văn Chấn tới châu Văn Bàn, voi đi thành lối lớn”.

————-

Số là tối nay tớ nhậu với 1 bạn làm sử, bạn í hỏi về người Mông Xanh và nguồn gốc dân tộc Nhật Bản. Tớ nói là tớ có một chút gì đó hình như liên quan, nên tớ post lại bài này. Blog Huy Bom hân hạnh phục vụ quý khách :P

Sen và kính

Posted in Uncategorized by huyminh on 02/02/2010

Chiều qua, tớ vừa đi xem triển lãm “Sen” của Nguyễn Huy Tính ở Viet Art Center (42 Yết Kiêu, Hà Nội), rất ấn tượng!

Triển lãm này khai mạc từ  chiều Chủ nhật, 31/01, nhưng hôm đó tớ bận đi xem ghi hình Táo quân.

 Thấy tờ giới thiệu ghi thì Tính mở triển lãm này để chào đón năm mới Canh Dần, và chào đón luôn cả lễ hội 1.000 năm Thăng Long.

 ”Sen” trưng bày 54 tác phẩm mới sáng tác của Tính. Tất cả các tác phẩm đều là Sen – loài hoa vốn quen thuộc với tất cả người dân Việt Nam .

Từ bé, nghe mẹ ru đã có câu hát “Trong đầm gì đẹp bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng…”, “Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen”…Lớn lên thì học “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”, ngắm tranh “Thiếu nữ bên hoa sen”, xem phim “Bông sen Việt Nam”…

Lượn một vòng, ngắm đủ 54 tác phẩm, với số chi tiết lên đến cả nghìn, chủ yếu bằng chất liệu chính là Kính, kết hợp với một số chất liệu khác như inox, sỏi, đá, gạch, đất… Nghe nói, để làm ra khối sản phẩm này, Tính và các cộng sự đã phải lao động miệt mài suốt cả năm qua.

Vì sao lại là 54 tác phẩm nhỉ? Hỏi Tính thì được biết, hắn lấy con số này vì gợi đến năm Thủ đô được giải phóng (1954), đồng thời cũng thể hiện ý nghĩa 54 dân tộc anh em cùng chào mừng ngày thủ đô tròn 1.000 năm tuổi. Con số chi tiết thì nhiều lắm, nhưng cứ tính tròn là 1.000, để chào mừng 1.000 năm Thăng Long!

Tính bảo: “Tôi thể hiện tác phẩm của mình với những bố cục đơn giản, giàu tính trang trí hướng tới số đông công chúng vốn lâu nay coi mỹ thuật là cái gì đó xa vời với cuộc sống của họ. Các tác phẩm đều dùng thủ pháp ẩn dụ, tương phản, qua đó người xem có thể dễ dàng cảm nhận được thông điệp của tác giả gửi đến cho mọi người”.

Hỏi về nguyên nhân chọn các loại “vật liệu xây dựng” để làm nghệ thuật, Tính trả lời: “Các tác phẩm được làm từ những chất liệu của nền công nghiệp hiện đại là Kính và Inox.., mang những suy tư và trăn trở về cuộc sống: Xung đột giữa cái cũ và cái mới, cái hay cái dở, giá trị tự thân những hi vọng, những uớc mơ…Đó luôn là những câu hỏi mà mỗi người xem phải tự trả lời, đó là thông điệp mà tôi muốn chuyển tải đến công chúng. Hy vọng người xem sẽ có những cảm nhận riêng hay có chút gì đồng cảm cùng tác giả”, 

 Cha này năm 2005 từng giành giải Nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc ngành điêu khắc. Hồi đó lão chuyên làm điêu khắc bằng sắt hàn, nay lại chuyển sang Kính. Công nhận mấy lão nghệ sĩ này đầu nghĩ ra lắm thứ thật!

 Xem mấy bình hoa cắm sen kính, nghĩ nhà nào rộng rãi, bày cái này trang trí thì sang phải biết!Quả cầu ao bằng tre mọc ra những cành sen hay cái giếng gạch với mặt nước phủ bèo có sen mọc lên, làm tiểu cảnh bên ngoài nhà cũng hay.

Mình thích cái cối đá nở hoa, trông thật gần gũi mà tao nhã. Quả chùm sen mọc ra từ đá cũng hay, những cọng sen inox vươn dài mềm mại như những cánh diều. Mình ước mình có một cái Villa, mình sẽ mua ngay bộ này về bày ở sảnh!

 Mấy cụm sen nhỏ có hiệu ứng ánh sáng chiếu lung linh, dùng làm đèn ngủ hay đèn trang trí thật là xinh xắn!

Mấy quả quạt sen, phù điêu sen, sen vuông, sen kính tím…cũng độc đáo. Nói chung là bồ kết!

Theo thông báo thì triển lãm mở cửa đến ngày 10/02 (Hăm bảy Tết), bà con ai rảnh thì ghé, rất đáng xem.

——————–

Cái đoạn trên đây là của bạn Tiên Long nhờ post trên blog tớ, coi như một Hợp đồng quảng cáo số 3 của blog này. Bạn í bẩu là, bạn í sẽ thanh toán thay cho hắn Tính 1 chầu nhậu hoặc 1 quả sen làm lưu niệm.

Chiều nay tớ có việc gặp một anh ở đây, tớ ngồi bên quán cà phê ngay cạnh phòng triển lãm. Hai phòng chung nhau một cái WC  nên tớ có vô tình đi qua triển lãm 2 lần. Nên, lúc đầu tớ ngó sơ sơ, nhưng lúc sau thì tớ ngó thật. Toàn là sen làm bằng kính, kết hợp với các chất liệu khó như đá, inox, gỗ… Ban đầu tớ nghĩ, hắn này làm sao có thể làm một bông sen bằng kính đậu trên một cái cuống inox được nhỉ? Tớ nghĩ hắn này làm tốt, nó hợp với mọi không gian. Hắn chơi những thứ cứng và sắc cho một hình ảnh vốn mềm mại và đậm hương thơm. Nhưng rút cục là mềm mại thật. Một cái sắp đặt dễ chịu.

Thôi cho Tiên Long và hắn nợ quả nhậu cũng như cái tặng phẩm hoa sen thủy tinh, nhỏ như nắm tay mà thấy bảo tới tận 150USD! :-&

Tình kiếm

Posted in Uncategorized by huyminh on 02/01/2010

Chiều mai ngày 2/2/2010, một nhà sưu tập sẽ công bố bộ cổ kiếm hơn 100 thanh tại Bảo tàng Lịch sử Quân đội. Bộ này gồm hơn 300 thanh, đợt này sẽ trưng bầy khoảng 100 thanh, tớ có biết. Trong số này có 1 cây mà bọn tớ tạm gọi là “Tình kiếm”. Click vô ảnh để phóng to lên mà coi. Như thường lệ, blog tớ vẫn không khuyến khích các cháu dưới 18 tuổi :D

Tagged with: ,