Hòn ngọc Đông Dương
Ghi chép về Tam Đảo, nằm trong loạt bài “Lật lại các khu nghỉ mát thời Pháp”. Các bài về các khu nghỉ khác do Hoàng Hằng, Hoàng Anh (Trung tâm Lưu trữ quốc gia) thực hiện.
Bài hay dư lày mà được đăng có hơn 2.000 từ một tị là cớ làm sao?![]()
1. Có lẽ không còn mấy ai nhớ rằng, người Pháp đã dùng cụm từ “hòn ngọc Đông Dương” để chỉ Tam Đảo thời cực thịnh. Nhã hiệu này đã chìm lấp theo thời gian, trong mây núi, cỏ hoang, dưới bước chân hàng triệu lượt người qua lại. Đây là trạm nghỉ trên núi cao nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, một khu nghỉ mát lý tưởng đối với các quan chức người Âu và gia đình của họ, nhất là vào những ngày nắng nóng. Trong suốt 15 năm, chính quyền thuộc địa đã chi vào đây khoảng 50.000 Frăng mỗi năm để biến nơi này thành nơi sa hoa tráng lệ bậc nhất Đông Dương.
2. Trạm khí hậu Tam Đảo quay hướng chính Bắc, lụp xụp nằm mục trong gió sương, phía sau mảnh vườn quan trắc 10x10m phẳng gần như tuyệt đối. Khó mà nhìn thấy trạm nhỏ này, thường lẫn trong mầu xanh ẩm ướt của sương núi và cây rừng, nếu không có hai cột máy đo gió trắng toát nhô lên, khe khẽ quay. Một con chó, một con gà mái ấp, một con gà chọi và bốn con gà thịt – thành viên mới được mua về, quanh quẩn kiếm ăn trong vườn su su rậm rịt bò lan trên các cọc nứa.
Quả cầu pha lê to cỡ trái bưởi đo nhật quang ký sáng một cách kỳ lạ giữa mảnh vườn quan trắc này, trong một ngày Tam Đảo thưa mây.
3. Trên lan can khách sạn xây trên nền biệt thự Pháp cổ, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên râu tóc muối tiêu, đúng hơn là muốn nhiều hơn tiêu, hỏi: “Bác sĩ hải quân Paul Néis và trung úy Albert Septans, rồi sau này là bác sĩ Étienne Tardif, nhà thám hiểm – bác sĩ A. Yersin đã tìm ra cao nguyên Lang Biang. Ai tìm ra Tam Đảo?”
Hỏi hay quá.
Chỉ riêng năm 2007 đã có 919.900 lượt người đến Tam Đảo (914.000 trong nước, 5.900 nước ngoài). Nhưng có vẻ như còn không nhiều người biết về những gì đã diễn ra trên mảnh đất này, cũng như đã từng có bao nhiêu biệt thự được xây dựng lên thời Pháp thuộc. Một đồng nghiệp của tôi đứng bên cạnh nhà phê bình râu tóc muối tiêu, mô tả: ở lòng chảo này có từng có tròn 100 biệt thự Pháp cổ, và được bố trí xây dựng khéo đến nỗi, nếu đứng ở cửa bất kỳ biệt thự nào cũng có thể nhìn thấy 99 biệt thự còn lại xung quanh. Đó chỉ là một trong những câu chuyện được lan truyền đến mức trở thành “dân gian hóa” về nghệ thuật quy hoạch lòng chảo Tam Đảo. Hỏi một vị lãnh đạo thị trấn này rằng, Tam Đảo từng có bao nhiêu biệt thự, tôi nhận được câu trả lời: “Chưa từng đếm lại bao giờ. Cỏ hoang che hết còn đâu…”
Những gì tôi viết dưới đây là do đi tìm mà biết được, sau câu hỏi đó. Và cố gắng chép lại thô mộc nhất. Để cố gắng không ai, không điều gì bị lãng quên đi.
4. Tam Đảo thời Trần Mạt thuộc huyện Dương, đến thời thuộc Minh vẫn gọi là huyện Dương thuộc phủ Tuyên Hóa, đời Lê Quang Thuận đặt là huyện Tam Dương, thuộc phủ Đoan Hùng trấn Sơn Tây. Dãy núi chúng tôi đang đứng đây gọi là Tam Đảo, vì khoảng giữa có ba ngọn núi cao vút như ba hòn đảo nổi giữa biển mây: ngọn Thiên Thị bên phải 1375m, ngọn Thạch Bàn bên trái cao 1358m, giữa là đỉnh Phù Nghĩa cao 1210m.
“An Nam chí nguyện” (nhà Minh – thế kỷ XV) chép: “Núi Tam Đảo phủ Tuyên Quang ở địa phận huyện Tam Dương có 3 ngọn nổi lên sừng sững cao vút đến tận trời, cùng với Tản Viên, hai ngọn núi đứng xứng đôi nhau là danh sơn của Giao Chỉ”. “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn chép: “Núi Tam Đảo ở địa phận 2 xã Lan Đình và Sơn Đình huyện Tam Dương”.
Một tài liệu do huyện ủy Tam Đảo cung cấp cho hay, dãy Tam Đảo đã được người Pháp phát hiện hồi đầu thế kỷ. Trong một báo cáo của những nhà điều tra rừng gửi toàn quyền Đông Dương năm 1904 đã mô tả: “Tất cả những điều kiện cần thiết cho một Viện điều dưỡng trên núi đều hội tụ đầy đủ ở khu Suối Bạc. Trước hết là nước lành, tiếp đến là khí hậu mát mẻ. Trong những ngày trời nóng, nhiệt độ ở đây thường thấp hơn Hà Nội 10 độ.”
Từ 1907, Pháp “mộ phu” làm cầu cống và cho xây khu nghỉ mát trên một thung lũng tròn có đường kính khoảng 2km. Có vè rằng “Suốt năm làm ở đỉnh non/ Ở nhà cha mẹ vợ con mất nhờ/ Thân tôi khổ đến bao giờ”. Ròng khá hoàn chỉnh với trên 100 biệt thự lớn nhỏ, sân vận động, bể bơi, nhà thờ, dần dần hình thành 2 làng riêng: “làng Tây” và “làng An Nam”. Cũng chính người dân Tam Đảo đã “góp” hàng nghìn ngày công để tự mình phá hủy đi số biệt thự này và 35 hầm kiên cố.
Sử về Tam Đảo chỉ mỏng manh có vậy thôi.
5. Tài liệu lưu trữ về Tam Đảo tại Trung tâm lưu trữ quốc gia không nhiều, ngoại trừ một số thông tin như năm 1904, một phái đoàn quân sự được Phủ Toàn quyền giao nhiệm vụ tìm trong dãy núi Tam Đảo địa điểm thuận lợi để đặt một trạm nghỉ mát mùa hè. Phái đoàn đã báo cáo là ở độ cao 930m có một khoảnh đất hình vành chảo (cirque) có thể đáp ứng những yêu cầu của dự án nói trên. Trong hai năm liền, khi thì phái đoàn quân sự, khi thì do một nhân viên có nhiệm vụ kế tục công việc của phái đoàn đã tiến hành quan sát một cách có hệ thống. Năm 1906, Phủ Toàn quyền quyết định xây dựng trạm nghỉ mát này. Một hợp đồng xây dựng đường sắt cáp kéo và một khách sạn lớn đã được
ký kết giữa Chính quyền thuộc địa và một Cty tư nhân. Nhiều công trình nghiên cứu tốn kém cũng đã được thực hiện nhưng thật không may, việc thực hiện chương trình này ban đầu bị chậm lại và sau đó buộc phải từ bỏ hoàn toàn do chiến dịch Yên Thế và vì lý do tài chính.
Ngay từ khi đó, người ta chỉ bằng lòng với việc nâng cấp con đường đi từ Vĩnh Yên lên núi và tiếp tục kéo dài thêm 300 – 400m rồi tới độ cao 930m.
Bên cạnh những căn nhà nghỉ của Công sứ Vĩnh Yên và của Phủ Thống sứ, cho đến tận năm 1912 ở Tam Đảo hầu như chỉ có nhà ở của lính gác chính, đồn lính khố xanh, một hoặc hai ngôi nhà nghỉ và hai hoặc ba hầm trú ẩn. Mặc dù vậy, lượng khách du lịch và khách nghỉ mát hàng năm đến đây ngày càng đông và vào năm 1913, một khách sạn đầy đủ tiện nghi với 16 phòng được mở, ngay lập tức khách sạn đó không còn một chỗ trống. Đó chính là Khách sạn – nhà hàng Thác Bạc (Hôtel – Restaurant de la Cascade d’Argent) và là khách sạn đầu tiên và lớn nhất tại Tam Đảo. Đây là dấu hiệu phát triển mang tính quyết định của trạm nghỉ. Vào đầu năm 1914, một ngôi làng được xây dựng gần khách sạn cùng với các toà biệt thự của tư nhân, của các Cty, nhà điều dưỡng của Hội truyền giáo Tây Ban Nha, đồn lính khố xanh mới.
Cũng tại tài liệu hiện được Nhà nước lưu trữ, tháng 2/1924, Chính quyền Bảo hộ đã quyết định nhượng toàn bộ việc khai thác Cascade d’Argent cho Cty Bất động sản Pháp (Société Française Immobilière) có trụ sở tại Khách sạn Chính quốc (Hôtel Métropole), số 15 đại lộ Henri Rivière (nay là Khách sạn Sofitel Métropole, số 15 phố Ngô Quyền, Hà Nội) trong thời gian từ 3 đến 9 năm, tuỳ theo ý muốn của bên được nhượng. Tháng 6/1933, Chính quyền Bảo hộ tiếp tục chuyển nhượng việc khai thác khách sạn Thác Bạc cũng như dịch vụ vận chuyển bằng ô tô từ ga Vĩnh Yên đến Tam Đảo và ngược lại cho Cty các khách sạn Pháp (Compagnie hôtelière française) trong thời gian 9 năm (từ 01/6/1933 đến 31/12/1941). Tuy nhiên, theo biên bản ngày 23/11/1933 của Đại Hội đồng các cổ đông của Cty các khách sạn Pháp, Cty này chính thức bị giải thể. Do vậy, ngày 8/3/1935 Thống sứ Bắc Kỳ đã ban hành Nghị định số 1098-A về việc Cty Địa ốc Bắc Kỳ và Trung Kỳ (Société Foncière du Tonkin et de l’Annam) được phép thay thế Cty các khách sạn Pháp thực hiện Hợp đồng trên. Đến đầu năm 1942, một Hợp đồng mới về việc khai thác khách sạn Thác Bạc, các khu nhà phụ tại Tam Đảo và dịch vụ vận tải từ Vĩnh Yên đến Tam Đảo lại được Chính quyền Bảo hộ Bắc Kỳ và Cty Địa ốc Bắc Kỳ và Trung Kỳ ký kết trong vòng 12 năm kể từ ngày 1/1/1942.
Gần như đó là những gì cơ bản nhất về Tam Đảo thời Pháp thuộc còn được giữ đến ngày nay.
6. Tạp chí Đông Dương, năm 1914 (XVII e Anne’ – No6 Juin 1914) lưu trữ tại thư viện quốc gia cho thấy, đã có một bài viết “PR” cho Tam Đảo. Tóm lược như sau:
Tam Đảo là một trạm ở độ cao không cao lắm (930m), nằm ở Đồng bằng Bắc Bộ, cách Hà Nội bốn tiếng đồng hồ. Đó là một địa điểm nghỉ ngơi, từ Hà Nội lên cũng dễ dàng (mất một tiếng rưỡi đi xe lửa, sau đó đi ô tô), là nơi các viên chức người Âu có thể nghỉ ngơi trong mùa hè oi ả. Khí hậu ẩm và nóng nhưng ban đêm thì tương đối mát. Nhờ có tiền trợ cấp của thuộc địa cho mỗi năm 50.000 Frăng, trong mười lăm năm, một người thầu khoán đã nhận xây một nhà khách sạn từ 40 đến 50 giường, để bất kì người Âu nào cũng có thể ở trọ được. Hợp đồng ký giữa Thuộc địa và chủ khách sạn quy định mức trả tiền của mỗi loại khách du lịch đến ở trọ.
Về lịch sử Trạm nghỉ mát mùa hè Tam Đảo:
Năm 1904 một phái đoàn quân sự được phủ Toàn quyền Đông Dương giao nhiệm vụ tìm trong dãy núi Tam Đảo, gần Hà Nội, một điểm thuận lợi cho việc đặt một trạm nghỉ mát mùa hè. Trong hai năm, đoàn đã tiến hành quan sát một cách có hệ thống. Cho đến năm 1912, thì ở Tam Đảo ngoài những nhà sa – lê của ông công sứ và tòa Khâm sứ Bắc bộ, chỉ có nhà ở của đội vệ binh chính xứ, bốt của vệ binh bản xứ (Vệ binh bản xứ tức là indige’ne, lính khố xanh), một hoặc hai nhà sa – lê và hai hoặc ba căn nhà tạm trú. Sang đầu năm nay (1914) đang xúc tiến xây dựng một làng ở quanh nhà khách sạn, gồm có: những biệt thự tư nhân, những biệt thự của các hội, nhà điều dưỡng, nhà Chung Tây Ban Nha, một đồn bốt mới của đội vệ binh bản xứ (tức dân gian thường gọi là đồn bốt lính khố xanh “gác anh đi gien”).
Theo đường chim bay, dãy núi Tam Đảo cách Hà Nội chừng 50 km. Dãy núi sừng sững ở ngay cửa ngõ của đồng bằng Bắc Bộ, trên ranh giới giữa hai tỉnh Vĩnh Yên và Thái Nguyên, núi nhô lên trên mặt phẳng đồng bằng với độ cao từ 1300 đến 1350m ở những đỉnh cao nhất.
Trước đây có rất nhiều cây, nhưng Tam Đảo hiện nay chỉ có một vài khu rừng đẹp mà quy chế bảo vệ rừng dù rất chặt chẽ đến đâu cũng không là thừa. Vì rằng các khu rừng đó là các nhân tố duy nhất còn có tác dụng giữ nước trên núi chảy thành suối nhỏ ở đáy các thung lũng hẹp và bờ dốc mà chảy về phía đồng bằng.
Trong số đó, có một thung lũng đột nhiên loe rộng ra ở độ cao 930m thành một vành chảo gần 2km2. Vành chảo đó mở ra về phái cánh đồng Vĩnh Yên, còn mặt sau thì dốc từ từ lên tới gờ sống của dãy núi, gờ dãy núi này bao quanh vành chảo phía Đông Bắc và Tây Bắc.
Cây cối xum xuê trên sườn núi, và có hai con suối đi xuyên qua vùng đất đó theo hướng từ Bắc xuống Nam sau đó hai suối hợp lưu, rồi sau ba lần đổ nước thành thác 130m, suối chảy về phía đồng bằng, hòa vào nước sông Hồng. Địa điểm này gọi là Thác Bạc được coi là thuận lợi cho việc tạo dựng lên một trạm nghỉ mát mùa hè.
Khu vành đảo của
Thác Bạc hiện nay (1914) được nối với đồng bằng bởi một đường hẹp dài 24 km ô tô đi được. Con đường này xuất phát từ Vĩnh Yên, đi 14 km thì đến chỗ bắt đầu lên dốc dãy núi Tam Đảo. Con đường có 12 km ngoằn ngoèo trên sườn phía Tây của thung lũng Thác Bạc, đường dốc nhè nhẹ, tương đối nhè nhẹ cho tới điểm cao 400 (hồi 1945 điểm cao 400m được dân gian gọi là “cốt cát xăng”). Từ điểm cao 400, đi thêm 5 km cuối cùng thì nhanh chóng lên tới trạm nghỉ mát ở núi cao.
Ở đoạn 5 km cuối này, tốc độ trung bình là 0,10 mét cho một mét. Con đường không rộng lắm, nhiều chỗ chênh vênh bên sườn núi trông xuống thung lũng Thác Bạc, tuy nhiên đường đi ô tô được nhưng nếu dặn lái xe phải rất thận trọng trên đường này thì không bao giờ thừa.
Thung lũng cao của Thác Bạc là một nơi mà một nhà thực vật học đến quan sát thì cực kì vui thú. Hoa lan có rất nhiều cùng các loại thảo ẩn hoa.
Hoa trà là những điểm đỏ và trắng lốm đốm trên nền rừng nứa, bên sườn núi. Có nhiều loại cây gỗ cúng như long não, lim, gụ… Các loài muông thú không kém phần phong phú: một ít vượn, hươu, lợn rừng ở dưới thấp, lại có rất nhiều loại chim ở trên cao như chim sơn thước, boboli’rix, sáo, chim ác mỏ xám, chim sa tàu, chim hoàng tước, quạ khoang, bói cá… lại phải kể thêm nhiều loại chim trĩ, gà rừng, một ít gà lôi vàng và gà gô đỏ.
Có ít rắn không độc, rùa hoa và rùa bụng đỏ ở chỗ ẩm rất nhiều loài bướm đẹp trong các khu rừng nứa, đó thật là một địa bàn nông trang có rất đầy đủ sinh vật cho các nhà côn trùng đến làm thí nghiệm và nghiên cứu. Dù sao, cần phải nói là hầu như không có muỗi.
Vùng vành chảo mà trong đó có trạm nghỉ mát ở độ cao có một khí hậu thật là dễ chịu mùa đông cũng như mùa hè. Không khí thật là tinh khiết và có độ trong sạch nhìn suốt thấy tận xa. Độ ẩm của không khí không khó chịu như dưới đồng bằng, không có cảm giác nặng trên vai, không có mồ hôi nhớp trong người. Nhờ có gờ sống dãy núi cao bao quanh thuận lợi, trạm nghỉ mát được che tia nắng mặt trời phần lớn thời gian ban ngày và mùa hè vẫn có sự mát mẻ tuyệt vời vào lúc mà dưới đồng bằng thì nóng ngột ngạt.
Từ tháng 5 đến tháng 9, mức chênh lệch nhiệt độ giữa đồng bằng và trạm nghỉ mát lúc nào cũng từ 9 độ C trở lên, đôi khi chênh nhau tới 13 độ C, và có điều đáng lưu ý là khi dưới đồng bằng nhiệt độ càng cao bao nhiêu thì chênh lệch đó lại càng lớn bấy nhiêu.
Do đó ở thung lũng Thác Bạc không thấy cần nghỉ trưa. Vào giờ nóng nhất trong ngày có thể vận động thể dục không có gì khó chịu cả. Chiều tối mặc một áo vét dạ là vừa phải, còn ban đêm thì nên đắp chăn.
Trạm nghỉ mát có nhiều nước do dòng chảy và do thấm qua đất. Phân tích các mẫu nước lấy ở nhiều điểm khác nhau ở vùng vành chảo, thấy đó là nước suối uống được, ít chất khoáng, trong suốt không màu sắc và nếm có vị dễ chịu. Tuy nhiên, nước có thể bất thần bị ô nhiễm, nên nếu uống nước thì trước đó nên đun sôi đã.
Theo yêu cầu của Công đoàn xây dựng Tam Đảo, nhà chức trách địa phương đã nghiên cứu một đề án lấy nước và dẫn nước từ dòng suối của Thác Bạc, để dùng cho trạm nghỉ mát.
Nếu đứng từ phía gờ sống dãy núi giới hạn núi Tam Đảo ở phía Nam, ta có thể có tầm nhìn rất xa vào đồng bằng, bao quát toàn bộ thung lũng sông Hồng từ Hưng Hóa tới phía trên lưu vực Hà Nội bị che khuất bởi gờ sống núi phía Đông. Gặp hôm trời trong không vẩn mây, thị xã Vĩnh Yên nổi lên với những nhà trắng lấp lánh dưới ánh mặt trời; Hưng Hóa nằm trên một ngọn đồi và con sông Lô thấp thoáng phản chiếu ánh sáng lên cầu Việt Trì trước mặt là dãy núi Ba Vì, dưới chân núi là thị xã Sơn Tây, nếu nhìn qua ống nhòm thấy rất rõ. Xa hơn nữa về phía Đông, có vài nhánh của sông Hồng, có làng Hương Canh, làng Tháp Miếu (UBND làng Tháp Miếu giáp ga thị xã Phúc Yên), có những ngôi nhà trên sáu ngọn đồi nhỏ. Trong đồng bằng của chân Tam Đảo có nhiều vết màu xanh sẫm, đó là những làng, quanh làng có ruộng lúa, nước ở mặt ruộng phản chiếu tia sáng mặt trời làm cho phong cảnh đồng quê đó tựa như biển rộng có rải rác đây đó như những cù lao nhỏ. Phong cảnh đồng bằng thật đẹp không đâu bằng.
Có cơ quan xe hơi công cộng bảo đảm phương tiện vận chuyển nhanh chóng từ ga Vĩnh Yên đến đèo điểm cao 400 (đi chừng 45 phút, giá 3 đồng).
Từ đèo 400 (cốt cát xăng) đến trạm nghỉ mát có thể thuê phu khiêng kiệu, đi ngựa hoặc xe kéo. Trong mọi trường hợp đều nên báo trước cho chủ khách sạn biết ngày mình lên tới nơi.
Phòng bưu điện mở cửa làm việc từ ngày 1 tháng năm đến ngày 1 tháng mười.
7. May mắn thay, tôi có được trong tay các ghi chép về quê hương Tam Đảo của Ban liên lạc đồng hương vùng đất này ở Hà Nội. Theo đó, từ năm 1902 trở về trước, Tam Đảo là một bản làng có hơn một chục hộ dân người Đại Bản (Mán sơn đầu) ở rải rác ven suối, lòng chảo thôn một và phía đông thôn hai hiện nay. Khi Pháp xây dựng khu nghỉ mát, dân bản bỏ đi, một số sang Quân Chu (Thái Nguyên), một số xuống xã Lãng Công (Lập Thạch, Vĩnh Phúc), một số sang Ba Vì.
Năm 1904 một phái đoàn quân sự Pháp báo cáo đã tìm được theo lệnh của Phủ Toàn quyền Đông Dương là trong dãy núi Tam Đảo một nơi nghỉ ngơi trong mùa nắng oi ả nung người.
Sau này (23/10/1923) người Pháp lại khẳng định: “Tam Đảo có thể xây dựng khu nghỉ mát phù hợp với người châu Âu, và ở gần đồng bằng nên họ không phải đi quá xa nơi làm việc, trong mùa mưa nắng họ có thể để gia đình nghỉ ở Tam Đảo và hàng tuần họ có thể đến
ó nghỉ vài ngày”.
Năm 1906 Phủ Toàn quyền Pháp ra quyết định xây dựng Tam Đảo; năm 1911 bắt đầu mở đường bộ từ Vĩnh Yên. Bốn năm sau đã hình thành đường cho xe thô sơ tới Tam Đảo.
Năm 1912, có nhà ghép gỗ của công sứ Vĩnh Yên và thống sứ Bắc Kỳ, nhà của đội vệ binh Pháp, bốt của vệ binh bản xứ, một hai nhà ghép gỗ và hai ba nhà tạm trú. Năm 1913 khai trương một khách sạn16 buồng. Năm 1914, quanh khách sạn đã có các biệt thự tư nhân, biệt thự của các hội, nhà điều dưỡng của nhà chung Tây Ban Nha, một đồn bốt mới của vệ binh bản xứ…
Từ năm 1914 trở đi, Pháp xây dựng các nhà bằng gạch đá ở Tam Đảo. Các thập kỉ 10, 20 thế kỷ trước, vật liệu xây dựng gồm đá khai thác tại chỗ, mái kết cấu gỗ và trần toóc xi. Nhà nhiều tầng có cầu thang gỗ, sàn dầm gỗ lát ván, hoặc sắt hình liên kết với gạch cuốn (nhà Toàn quyền, nhà ở của cha cố), ngói lợp chở từ Pháp sang như ngói nung Marseille, ngói đá mỏng (ác đoa), loại nhà này phần lớn nằm ở lòng chảo và ở sườn núi phía Tây (nhà Chánh xứ, nhà Hồ Đắc Điềm…).
Ông Nguyễn Hồng Hiệp – Chánh văn phòng huyện ủy, người sinh ra tại Tam Đảo nhận xét: “Sườn núi phía Tây về chiều nhiều ánh nắng, trong vùng không khí ẩm thì đó là một lựa chọn khôn ngoan”.
Đến thập kỷ 30, 40 đã xuất hiện nhiều nhà bê tông cốt thép kết hợp với tường gạch đá và được mở rộng về phía Đông Bắc (từ nhà máy giấy đến nhà Joseph. Năm 1945 có khoảng 143 biệt thự lớn nhỏ, trong đó có dinh Toàn quyền, nhà kiểm lâm, nhà lục lộ…
Các biệt thự không sát liền nhau mà được xây dựng men theo sườn núi; càng xa trung tâm lòng chảo càng nhiều nhà cao tầng, hầu hết là của các chủ người Pháp, chỉ có một vài nhà thuộc tầng lớp quan lại, thượng lưu người Việt (Hồ Đắc Điềm, Phú Mỹ, Hồng Khê…). Mỗi biệt thự mỗi kiểu, mỗi kiểu mỗi tên, tên rất kêu nhưng cũng rất thực: L’horizon (chân trời nhà có tầm nhìn xa và rộng)… Belle vue (ngoạn mục)…
Khách sạn Métropole 5 tầng sừng sững ngay khi vừa tới khu nghỉ mát, có phòng nhảy, có sân quần vợt… Dinh Toàn quyền đồ sộ nằm riêng trên một mỏm núi phía Nam thung lũng. Đường vào dinh Toàn quyền đi qua hai nhà của sĩ quan cao cấp quân đội Pháp. Có nhà thờ lớn xây bằng đá, tháp chuông cao chót vót, có nhà 7 tầng trườn theo sườn núi, có nhà mái bằng, có nhiều nhà mái ngói lợp màu nâu sẫm, có nhà lợp bằng mái đá đen mỏng.
Ban đêm, ánh điện lấp lánh rực sáng núi rừng.
Giữa lòng chảo là khu công viên – thể thao văn hóa: có bãi rộng, có bồn hoa, ghế đá, sân chơi trẻ em… giống cỏ, giống hoa nhiều loại đưa từ Pháp sang (chỉ trồng được ở nơi mát); vào hè, trăm hoa đua nở, trăm màu khoe sắc; có bể bơi dành cho người lớn, có cả bể bơi dành cho trẻ con; có sân quần vợt, có nhà bắn bia; xa và cao hơn về phía Đông bắc có sân bóng đá… có các ki ốt (nhà lục lăng), ở những nơi có tầm nhìn rộng, gần khách sạn Metropole và gần nhà Toàn quyền, phía trước ki ốt có bàn đá hình cánh cung, mặt bàn vạch các mũi tên chỉ hướng và khoảng cách tới các địa danh trung du đồng bằng…
Tam Đảo đúng là một nơi thần tiên non bồng, chẳng thế mà người Pháp đã ví Tam Đảo là hòn ngọc của Đông Dương, hơn Đà Lạt, Sapa (Việt Nam), thậm chí hơn Mông Tư (Vân Nam, Trung Quốc).
8. Bên cạnh khu nghỉ mát nguy nga tráng lệ cũng hình thành đồng thời “làng An Nam” – cái tên đau khổ, đầy khinh miệt của người dân nô lệ. Đây là một khu định cư người lao động, làm thuê. Pháp dồn dân ta vào một nơi, không được ở chung trong khu nghỉ mát.
Lúc đầu, làng ở cách khu nghỉ mát chỉ vào trăm mét, bên sườn núi chênh vênh (trước đền Mẫu hiện nay). Sau hai lần hỏa hoạn là hai lần người Pháp có cớ để đẩy dân ta đi xa hơn, đến khu 2 hiện nay (cách trung tâm lòng chảo 1 – 2 km). Đất rừng mênh mông nhưng chúng chỉ phân cho mỗi hộ hai, ba chục mét vuông. Cả làng nhà tranh vách đất, liền sát nhau, mái nhà dưới là sân nhà trên, hỏa hoạn xảy ra thì thật khủng khiếp, gió thổi lửa cháy một nơi thành cháy nhiều nơi, chỉ lo cứu người, lo cho người già, trẻ con. Gió bão ở trên núi cao thì cũng thật ghê gớm, thổi bay cả một mái ngói.
Phía bắc làng An Nam là trại lính Pháp hình thành vào năm 1939 – 1940. Để đối phó với nhưng diễn biến có thể xảy ra ở Đông Dương trong Thế chiến thứ hai, Pháp đã chuẩn bị xây ở Tam Đảo hai pháo đài, một ở điểm cao trên hướng Đông Bắc một ở phía Tây Nam thị trấn. Ở đây là những tên lê dương mà phụ nữ trẻ em phát khiếp khi thấy chúng, nhất là khi chúng say rượu, con gái không dám vào rừng kiếm củi. Chúng chốt ở cửa ngõ Tam Đảo này đến một đại đội. Lính lê dương cũng chỉ được đi lại từ làng An Nam trở xuống, không được lên khu lòng chảo, nơi nghỉ mát của giới thượng lưu.
Đầu những năm 1940, Pháp còn phát hiện về phía Tây và cách chừng 12km còn một nơi nữa mà chúng gọi là Tam Đảo 2, cũng có thể lập thành khu nghỉ mát. Tam Đảo 2 rộng hơn Tam Đảo 1, cũng đẹp và cũng có nguồn nước sạch và đã bắt đầu phá đá làm đường.
Năm 1948, thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” bảo đảm đường giao thông huyết mạch giữa chiến khu Việt Bắc và cả nước, người Tam Đảo đã phá toàn bộ các biệt thự, trừ nhà thờ, nhưng đến sau năm 1954 lại phá tháp chuông.
Ông Nguyễn Duy Hoạt, Chủ tịch thị trấn Tam Đảo kể: phá bằng búa tạ và xà beng. Dân đục hàng loạt các lỗ đối diện nhau trên tường các biệt thự, rồi luồn thân gỗ lớn vào. Sau đó nổi lửa. Hầu hết các công trình ở đây đều thuộc diện nguy nga đồ sộ, các biệt thự đại đa số đều xây bằng đá, kiên cố hết mức, tường tầng một khách sạn Metropole dày 1,2m nhưng thảy đều không chịu được lửa lớn, trở thành đống đá vụn mà không cần đến một quả mìn, một lạng thuốc nổ nào. Phá hoại cũng đầy sáng tạo.
Hình như, thoáng có tiếng thở dài trong lời kể ấy.
Cuối năm 1947, giặc Pháp càn quét Tam Đảo, chúng đốt cháy làng An Nam để trả thù. Tất cả thành tro bụi. Hòa bình lập lại, một vài căn nhà gỗ mái tôn bắt đầu được dựng lên trên nền hoang tàn cũ.
(Phần tiếp được pốt ở com men)












Tam Đảo nghỉ dưỡng dễ chịu (nghe đồn đang ngày càng khó chịu hơn). Cứ mỗi tháng tự nhiên nhắm mắt hô úm ba la phát đang ở ngay 1 resort tại đây, nghỉ ngơi phè phỡn rồi úm ba la về lại thành phố mà cày, khỏi đày đọa tàu xe, thì thích!
Quá trình hình thành khu nghỉ mát Tam Đảo đồng thời là quá trình tập trung và định cư người lao động, người làm thuê, vì vậy cư dân Tam Đảo không có lịch sử lâu đời như cư dân những làng quê Việt Nam khác.
Tất cả những người lên Tam Đảo đều là những nông dân phải rời bỏ quê cha đất tổ, tha phương cầu thực lên núi này với hai bàn tay trắng, lao động để kiếm sống, hầu hết là người ở các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình và Hưng Yên…
Những người dân phu làm đường và khai thác vật liệu làm đường này bám vào hai bên đường để tiến dần vào lòng chảo Tam Đảo. Di tích còn lại là đền thờ ở chân suối (km 13), đền cậu (km 14), nơi ở là cái cốt cát xăng (km 19), Hương Canh (km 21); họ sống chui rúc trong các lán tranh tre ven đường và gửi gắm nỗi thống khổ của mình vào các đền chùa miếu mạo.
Lam lũ nhất phải kể từ những người phá núi, làm đường, khênh kiệu, vận chuyển bằng khuân vác từ đồng bằng lên cao 900m. Người dân Tam Đảo gồm những người lao động liên tục sau nhiều năm làm phu, làm thợ, đi buôn sau định cư luôn tại nơi này.
Dân số Tam Đảo năm 1941 khoảng 1.000 người – năm cao nhất 1940 – 1943 có xấp xỉ 6.000 người. Họ có hai nhóm:Một bộ phận chuyên về “gác nhà”. Mỗi chủ biệt thự ở khu nghỉ mát phải thuê người trông nom nhà, nơi ở của họ là nhà bếp, nhà để xe, cá biệt có gia đình được ở ngay tầng một của biệt thự – khoảng 1/3 người gác các nhà nghỉ của các công sở Pháp là lính như các ông Ngũ Văn, Ngũ Tuyên, Ngũ Cát Tô (bố anh Bái, anh Tường và chú Ngãi) hoặc nhân viên bậc thấp của chính quyền Pháp, số còn lại từ thợ thuyền chuyển sang gác nhà.
Một bộ phận lớn còn lại chuyên làm thợ: Mộc, nề, tạp dịch, sửa chữa đồ gỗ, đồ mây, ống nước… buôn thúng bán mẹt, trồng rau, chăn nuôi ở “làng An Nam”. Ngoài ba tháng hè là thời gian kiến thiết, thợ thuyền ở miền xuôi tập trung thêm lên và sống chen chúc vào làng An Nam.
Mức sống của người gác nhà có nhỉnh hơn mức sống thợ thuyền ở “làng An Nam” một chút vì có lương tháng. Khi thôi không gác nhà, có người lại chuyển xuống “làng An Nam”.
Ngoài số người định cư trên, có một số khá lớn người tạm trú như lính khố xanh và gia đình (thường gọi là trại con gái), tù nhân, nhân viên cảnh sát…
Pháp đã huy động phu phen của tỉnh Vĩnh Yên lên làm đường. Quan huyện Hương Canh phải đích thân dẫn dân làm đoạn đường từ km 20 đến km 24. Tại km 21, nơi có lán trại hồi đó bây giờ còn cây gạo mà nhân dân ta vẫn gọi là cây gạo Hương Canh.
Quan thực dân thời gian đầu lên Tam Đảo bằng cách ngồi ghế song loan, phu phen mỗi chuyến 6 người, thay đổi vai, khiêng từ km 13 lên lòng chảo.
Chỉ riêng năm 1943, để làm sân vận động mà nói theo lời của Chánh sở quy hoạch Đô thị và Kiến trúc Trung ương CERUTTi trên Tạp chí Đông Dương số 164 – 165 ngày 28/10/1943 là “đẹp nhất Đông Dương, quan giục lính, lính giục dân – người lao động vừa chịu roi vọt vừa rét như cắt ruột, có ngày nhiệt độ xuống tới 3 – 4 độ C, công việc vừa cực nhọc, ăn uống kham khổ, đánh đập, đói rét đã làm 23 người chết.
Người gác nhà lỡ để mất mát gì thì bị chủ nhà hành hạ đủ tội.
Khi có vấn đề gì nghi ngờ, có thể không an toàn hoặc có gì mất mát, chúng tổ chức lục soát cả làng An Nam. Chúng cho lính khố xanh bắn bia qua làng An Nam – lính đứng ở đầu dốc lối xuống của làng, bia lưng chừng núi cắt đường vào đền Đức Thánh Trần – những ngày này làng không dám ra khỏi nhà, biết đâu đạn lạc, biết đâu đạn rơi dọc đường. Mỗi phát súng trường thêm âm vang vách núi đủ làm ông bà già, trẻ con người yếu bóng vía khiếp đảm.
Nhà pha (tiếng dân ta gọi người tù) bị đầy đọa quanh năm để phục vụ cho những ngày phè phỡn của chúng: dọn cây cỏ hai bên đường, cả những đoạn vách đá thẳng đứng, manh áo mỏng sao chống được rét; miếng cơm hẩm cá mắm sao đủ sức lao động khổ sai? Có người khách Tây đi chơi trên đầu Thác Bạc đã ngã chết, xác nằm lơ lửng ở khe đá giữa thác, chúng lại bắt nhà pha lấy xác lên.
Đã có người tù chọn cái chết để thoát cảnh trần gian cực nhọc: khi ngồi ở lề đường bên vách núi thẳng đứng đã ngả người cho lăn xuống thung lũng Thác Bạc.
Chấm dứt một kiếp người!
Bể bơi người Việt không ai được sử dụng. Người có đạo không được lễ Chúa trùng với thời gian của người Pháp. Người Pháp sống đế vương trong các biệt thự đầy đủ tiện nghi, có bồi bếp, phục dịch từ ăn uống, giặt giũ, quét tước lau chùi nhà cửa… và họ chỉ có ăn chơi và hưởng thụ.
Bà con ở chân núi làng Mấu, làng Mạ… mỗi ngày đến vài chục người gánh gồng đủ mọi thứ lên bán như gạo, gà vịt, cá tươi, rau dưa, hoa quả… Mùa hè, cách một ngày một phiên chợ: thịt lợn, thịt bò, gà vịt ê chề – thịt lợn, thịt bò phải giữ nguyên tim, gan, óc để bác sĩ khám rồi mới bán – rau quả buôn cả từ Hà Nội lên: măng tây, cần tây, tỏi tây, khoai tây…
Hai cửa hàng Metropole và Chaffanjon bán đủ các loại bánh kẹo và thức ăn đã chế biến: giăm bông, bơ sữa, rượu, đồ hộp đủ thứ.
Dân ta thì sống quá khổ – có gia đình đẻ 11 lần mà chỉ nuôi sống được 3; trẻ con mới 13, 14 tuổi đã phải đi đập đá làm phụ hồ. Chỉ được đun nấu bằng lau sậy, củi khô. Nhà nào mà chặt củi tươi là bị phạt. Một số nhà chăn nuôi đã đấu thầu mua nước gạo của khách sạn Metropole, hay của trại lính Tây. Nếu có quan hệ tốt với người phục vụ ở đó thì họ không đổ cơm thừa căn cặn lung tung, do đó nhiều thứ thừa như bánh mì, súp của trại lính Tây được bán cho dân ta ăn.
Cùng nhỏ tuổi, một đứa trẻ con Tây đã dùng súng cao su bắn vào đầu một đứa trẻ con ta nhưng phải chịu, biết làm sao, đánh lại chúng sao được, khi chúng được lũ “police”người chính quốc bảo vệ.
Thợ thuyền lên Tam Đảo xây dựng vào mùa đông còn khổ nữa. Phải lo nơi ăn chốn ở, phải xin cai thầu ứng tiền trước rồi lao động trả góp sau. Một câu vè minh chứng: Làm thì chả được tiền ngay/ Gạo thì ăn ngữ của thầy cai San/ Một đồng mười sáu bơ dơn/Đong đi đong lại cô còn mười lăm…
10. Một bài do ông Nguyễn Hữu Chuân biên soạn, có sử dụng một số tư liệu của báo Ruvue Indochinoise và bản sơ thảo lịch sử Đảng Tam Đảo 1945 – 1974 (do ông Nguyễn Hữu Duyện viết), cho thấy: Nô lệ Tam Đảo sống thuận hòa đầm ấm, che chở đùm bọc cho nhau. Làng trên xóm dưới tình nghĩa đậm đà, gắn bó với nhau, vì cùng phải rời quê hương bản quán, cùng lấy Tam Đảo làm quê hương thứ hai. Nhà trên, nhà dưới coi nhau như họ hàng, trẻ con Tam Đảo thường gọi bố mẹ của bạn là bác, chú xưng con hoặc cháu. Làng An Nam cũng có tiên chỉ, đây là người nhiều tuổi đến Tam Đảo lâu năm, có uy tín thực sự, không phải tiên chỉ của tầng lớp trên thường thấy của nông thôn Việt Nam. Lý trưởng, trương tuần cũng do dân dựng lên để đảm bảo cuộc sống bình thường, yên lành cho mọi người như khai sinh, khai tử… Trưởng phố (lý trưởng) không có lương bổng, không hống hách nhũng nhiễu dân.
Lạ rằng, dân Tam Đảo cũng tiếp thu được cái văn minh Âu tây, thể hiện rõ nét nhất là việc nuôi dạy cho con cái học hành. Hầu hết trẻ con trai được đi học – khi không có thầy giáo công, phải thuê thầy giáo tư. Dạy học không đủ sống thầy kiếm nghề khác, vào những năm thập kỉ 30 trẻ em phải trải qua 3 – 4 thầy mới đọc thông viết thạo. Trong một gia đình nói chung, ông bố làm ra tiền bà mẹ lo nội trợ, ông bố bắt cho con đi học, bà mẹ thấy không đủ tiền, gia đình lại hục hoặc nhưng rồi lại xoay xở để cho con cái được học hành.
Một số gia đình đã cho con gái đi học, trong khi xã hội đương thời mới thường chỉ cho con gái đi học chỉ để viết thư cho trai. Năm 1939 – 1940 Tam Đảo đã có con gái đỗ sơ học yếu lược. Sinh hoạt, nếp sống của dân khá văn minh, ít mê tín dị đoan, ăn uống nấu nướng vệ sinh khoa học. Bên cạnh đền chúa, đền mẫu, nhân dân Tam Đảo còn lập đền thờ Trần Hưng Đạo uy nghi trên một mỏm núi thể hiện ý chí quật cường của nhân dân ta vừa thể hiện lòng tự tôn dân tộc.
11. Người Tam Đảo đã tự mình nổi dậy. Cựu Chủ tịch kiêm bí thư thị trấn TĐ Nguyễn Thị Duyên, trong một bài viết ngày 7/11/1987 đề nghị người Tam Đảo cung cấp thông tin để xây dựng sử liệu cho vùng đất này đã viết: Tam Đảo được Pháp chọn làm nơi nghỉ mát cho chúng từ 1902 – 1905, việc xây dựng từ 1905 đến 1941 thì cơ bản xong. Tổng cộng có 123 biệt thự, một nhà thờ công giáo, một nhà tù, hai trại binh và một hệ thống nhà dịch vụ, trong đó có khách sạn 5 tầng Metropole. Hàng năm có hàng nghìn gia đình người Pháp lên nghỉ mát. Họ là những nhà tư sản, những quan thực dân cai trị ở nước ta như toàn quyền Đông Dương Catroux, Decoux, Thống sứ Bắc Kỳ Delsal, Chánh sứ Vĩnh Yên Removille. Chúng sống sa hoa trong những biệt thự lộng lẫy do chính tay những người lao động bản xứ ở Tam Đảo xây nên.
Thường xuyên có những cuộc đấu tranh chống bọn chủ cúp lương và đánh đập, điển hình là cuộc đấu tranh của anh em thợ nề làm thuê xây biệt thự Les Pergolas chống chủ thầu Tây Yaseph. Năm 1943, một thợ nề tên là Nguyễn Huy Minh (tức Thạch Sơn) đã vận động được một lính Lê Dương gốc Đức tên là Slemlec đào ngũ mang súng trốn vào rừng. Ngày 16/7/1945 đội du kích mang tên Phạm Hồng Thái do Nguyễn Huy Côn (Thanh Sơn) chỉ huy đã đánh và tiêu diệt đồn binh Nhật ở Tam Đảo sau một ngày đêm, thu toàn bộ vũ khí. Đồn Bảo An có một đại đội cũng theo ta, đứng lên bắn vào quân Nhật và nộp vũ khí cho quân Cách mạng. Sau thắng lợi này, ta giải phóng cho hơn 1.000 người Pháp, có khoảng 30 người Pháp cùng gia đình đã theo ta về khu giải phóng, trong đó có giáo sư toán học Becnard, trở thành những người Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến sau này. Cũng sau trận đánh ta đã giải phóng cho hơn 300 tù nhân Việt Nam do Pháp Nhật giam cầm ở Tam Đảo.
Ký ức “Trận đánh Nhật ở Tam Đảo” do Lê Hồng Tâm, chiến sĩ Giải phóng quân tham gia trận này viết lại gửi huyện để soạn sử, mô tả Tam Đảo được bảo vệ rất cẩn mật. Biệt thự có gần 100 chiếc (số liệu về biệt thự chưa bao giờ thống nhất), ngoài các công chức đầu ngành của bộ máy cai trị, của các sĩ quan cao cấp Pháp còn có của TGĐ Ngân hàng Đông Dương, của các linh mục. Nhiều đường mòn xếp bằng đá phiến, từng quãng có xây trạm nghỉ chân dẫn từ khu trung tâm đến các địa điểm có cảnh đẹp trong rừng già và có thể nhìn xuống đồng bằng. Một nhà thờ với tháp chuông cao xây bằng đá hộc trên một vị trí cao giữa các biệt thự, thường xuyên có một linh mục người Âu trông nom. Khu nghỉ mát được nối liền với đường quốc lộ số 2 ở thị xã Vĩnh Yên bởi một đường ô tô rải nhựa dài 24km uốn lượn theo các triền núi. Nguồn điện cao thế được dẫn lên theo đường cáp ngầm dài 10km nối với mạng lưới điện dưới đồng bằng.
Dãy Tam Đảo ngăn cách đồng bằng Vĩnh Yên với vùng núi của tỉnh Thái Nguyên. Từ khu nghỉ mát có một đường mòn của những người làm nghề rừng đi xuống chân núi phía Thái Nguyên được người dân địa phương gọi là “dốc Thái”. Cuối đường mòn này là một bản người Mán thuộc xã Quân Chu và từ đó đi ra một đường đất nối liền với huyện Đại Từ và Phổ Yên thuộc Thái Nguyên.
Để bảo vệ, Pháp bố trí gần nhà thờ một đồn cảnh sát, một đồn binh gồm một trung đội, có khi tăng tới một đại đội lính khố xanh do sĩ quan Pháp chỉ huy. Cạnh trại lính khố xanh là một nhà lao giam hàng trăm tù thường phạm người Việt để làm các công việc khổ sai như phá đá, làm đường, xây nhà, khai thác gỗ, đốn củi, đốt than… phục vụ tiếp tục mở mang khu nghỉ mát. Ngoài ra còn có một đơn vị lính Lê dương đóng doanh trại ở độ cao 600 – 700m. Tiếp giáp với nơi đồn trú của lính Lê Dương là làng An Nam, một xóm nhỏ nhà tranh vách đất của khoảng 60 – 70 gia đình người Việt vốn là dân nghèo các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình lên đây làm nghề thợ nề, thợ mộc, đốt than, trồng rau, trông nom biệt thự và phu phen tạp dịch khu nghỉ mát. Người Việt không được tự do đến “làng Tây” và người Pháp cũng không mấy khi đến “làng An Nam”, ngoài những tên chỉ huy đồn cảnh sát và lính khố xanh.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, quân phiệt Nhật dùng Tam Đảo làm nơi giam giữ người Pháp, đóng ở đây một trung đội lính Nhật, dùng 2 biệt thự xây dựng kiên cố gần tháp chuông nhà thờ làm doanh trại. Chúng giữ lại đội lính khố xanh 70 người, thay các tên chỉ huy cảnh sát và chỉ huy lính khố xanh người Pháp bằng các hạ sĩ quan người Việt và đổi tên lính khố xanh thành Bảo an binh. Toàn bộ Bảo an binh, cảnh sát, bộ máy cai trị khu nghỉ mát và làng An Nam đều đặt dưới quyền của tên chỉ huy quân Nhật. Đơn vị quân Nhật này lại thuộc quyền bộ chỉ huy của Nhật đóng tại thị xã Vĩnh Yên. Đề phòng Việt Minh tấn công, chúng thiết quân luật, đôn đốc Bảo an binh và cảnh sát ngày đêm tuần tra, khám xét và đặt một trạm gác ở đầu đường mòn (dốc Thái).
Cuối tháng 4/1945, trên đường trở về từ Tân Trào sau khi dự hội nghị quân sự Bắc Kỳ, Võ Nguyên Giáp đã gặp chỉ huy đội du kích Quân Chu ở dốc Thái và cho nhiều ý kiến chỉ đạo công tác. Ít ngày sau, đội đã đánh thắng một trận phục kích, diệt 2 sĩ quan Nhật và 1 Việt gian cầm đầu đảng Đại Việt thân Nhật khi chúng đem quân đi càn quét các xã Cát Nê. Đội phát triển thành trung đội Việt Nam giải phóng quân Phạm Hồng Thái, do Thạch Sơn làm đội trưởng.
Chiều 15/7/1945, do một lính Bảo an phản bội nên ta biết Nhật sẽ tước súng của Bảo an binh. Không để tước súng, phải hành động, đã lấy súng của Bảo an binh trang bị thành một đơn vị chiến đấu, mặt khác xuống làng An nam tổ chức quần chúng cắt đường dây điện thoại, ngả cây chặn đường ô tô, đồng thời quyết định hành quân lên Tam Đảo đánh Nhật. Chỉ có 11 người, 1 tiểu liên Sten, 5 súng trường Pháp vừa là mut-cơ-tông vừa là anh-dô-si-noa, 2 súng săn, 1 số lựu đạn, dao, kiếm, 2 quả mìn làm bằng ống bương và vỏ hộp sữa, trong nhồi thuốc nổ có nhiều mảnh chì và sỏi, ngoài quấn dây thép.
Trong đêm tối, giữa lúc mưa lớn, anh em ra sức leo nhanh trên đường mòn dốc đứng, có người hụt chân lăn xuống vực sâu vài chục mét lại trèo lên, cách 1km thì nghe nhiều tiếng nổ dữ dội. Toán đi trước thấy trời sắp sáng đã bò vào đồn địch đánh úp, bị lộ, địch bắn và ném lựu đạn ra làm 1 người chết và 2 người bị thương. Vì chưa biết tác dụng của lựu đạn nên anh em có phần hoảng hốt. Toán rút theo đường dốc Thái. Gặp đội của Thạch Sơn, hai bên dồn quân thành 40 người, rút về làng An nam phục kích quân tiếp viện. Sáng rõ bắt đầu bắn để địch rút vào đồn, sẩm tối khi sương mù xuống bắt đầu công đồn. Rất ác liệt. Địch rút chạy, có người Pháp đã nộp những khẩu súng họ giấu được, phụ nữ Pháp mang thuốc men, bông băng ra băng bó cho chiến sĩ bị thương. Tất cả đợi trời tan sương.
Sớm 17/7/1945, cảnh tượng như một ngày hội lớn. Dân từ “làng An Nam” kéo lên khu nghỉ mát, nhiều người Pháp trong các biệt thự đổ ra đường, cùng ta lùng sục những tên Nhật còn sống sót. Ta bắt được một tên trốn trong đống củi của một biệt thự, một người Pháp báo sau chuồng gà biệt thự của ông có một tên Nhật và dẫn ta đến bắn chết. Chỗ khác cũng diệt 3 tên không chịu ra hàng. Đội trưởng Thạch Sơn phát hiện 1 tên nằm trốn giữa vườn hoa trung tâm, là nơi không ai để ý, định tiến lại bắt thì tên này ném ra một quả lựu đạn. Tuy tránh được nhưng cũng bị thương vào trán và dùng tiểu liên diệt tên Nhật cuối cùng này.
Trưa 17/7/1945, sau khi dọn chiến trường, ta tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng tại sân vận động để giải thích chương trình Việt Minh, có chào cờ, hát tiến quân ca và xử bắn tên lính Nhật không chịu đầu hàng bị bắt sống. Sau đó tổ chức rút quân, đưa theo những quần chúng cơ sở xét thấy nếu ở lại sẽ bị giặc khủng bố. GS Bernard đề nghị cho 20 người Pháp, trong đó có gia đình công sứ Vĩnh Yên Đơvin và một số quan chức cao cấp có nguyện vọng được theo đơn vị và nhờ ta giúp đưa họ qua biên giới Việt Trung. Một bộ phận chiến sĩ mang theo khẩu trung liên chiến lợi phẩm của Nhật, đưa số người Pháp theo ta về Tân Trào. Khẩu súng máy này về sau trang bị cho một đơn vị giải phóng quân được làm nhiệm vụ bảo vệ lễ đài khi Hồ Chủ tịch đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình. Yvonne Bernard thay mặt nhóm người Pháp theo ta viết một lá thư “Gửi các bạn ở Hà Nội” bằng tiếng Pháp, nhờ nhân bản và bí mật chuyển về cho những người Pháp ở Hà Nội, nói rõ chủ trương của Việt Minh đối với Pháp, kêu gọi những người Pháp cùng hợp tác đánh Nhật và kể lại cuộc sống của nhân dân và quân giải phóng ở chiến khu được tổ chức hết sức hoàn hảo. Ở đó những người Pháp thực dân ngày hôm qua tán thành hợp tác đánh Nhật nay được đối xử như bạn bè.
Ngày nay, trên nền đồn Nhật năm xưa đã xây dựng một khách sạn du lịch nhiều tầng. Khu vực gác chuông nhà thờ, nơi đội trưởng Thạch Sơn đặt vị trí chỉ huy, đã được dùng để xây dựng khu nhà nghỉ mát của công đoàn. Nhà Bưu điện chỉ còn lại nền móng chìm ngập trong cây cỏ. Còn khu vực trước đây là “làng An Nam” đã xây dựng một nghĩa trang liệt sĩ. Nơi đây an nghỉ những chiến sĩ đã hy sinh anh dũng cho chiến thắng Tam Đảo.
Báo Quân giải phóng số 1 ngày 3/8/1945 có bài, được coi là của Võ Nguyên Giáp, viết: Tinh thần anh em binh lính Tam Đảo muôn năm! “Tam Đảo! Hai chữ Tam Đảo sẽ lưu truyền đời đời trong lịch sử cách mạng giải phóng của ta. Tại Tam Đảo, anh em đội, cai, binh lính đã theo lời kêu gọi của Việt Minh quay súng lại tiêu diệt giặc Nhật. Anh em binh lính nổi dậy diệt trừ giặc Nhật lần này là lần đầu tiên. Cái gương nghĩa khí ấy, toàn thể binh lính Việt Nam sẽ noi theo, toàn thể quốc dân Việt Nam sẽ ghi nhớ. Một điều đáng ghi nhớ nữa là trên ngọn núi Tam Đảo binh lính và giải phóng quân phối hợp cùng nhau chiến đấu mạnh liệt đã đưa đến cái kết quả tiêu diệt toàn bộ quân giặc và thu được toàn bộ khí giới của chúng. Tinh thần Tam Đảo muôn năm!”
Những người nô lệ tự khởi nghĩa ở Tam Đảo đã ghi danh mình vào trang đầu của lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam.
11. Thư của một người Pháp được Việt Minh giải phóng tại trận đánh Nhật ở Tam Đảo gửi cho những người Pháp ở Hà Nội có nội dung:
Gửi các bạn ở Hà Nội!
Việt Minh! Tôi muốn nói với các bạn về họ: một là để thỏa mãn trí tò mò da diết của tôi cũng như của các bạn, hai là xóa bỏ những hiểu lầm và thành kiến mà số đông trong chúng ta đã mắc phải. Việt Minh không phải là kẻ cướp cũng không phải là những người ghét người Pháp, mà chỉ là những người ghét chủ nghĩa phát xít và mong muốn giải phóng đất nước khỏi ách Nhật Bản. Đó là bộ phận sống động nhất của một đất nước đang sôi động và đầy sức mạnh.
Ngay từ lò làm than “Lán Than”, chặng đường đầu tiên cách Tam Đảo vài km người ta cho chúng tôi ở trong một ngôi nhà gianh giữa rừng, chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi nghe tiếng chuông điện thoại dã chiến và biết người ta đang lo tổ chức chuyến đi cho chúng tôi.
Buổi sáng vào giờ tập hợp, một vài câu hát hùng mạnh báo tin tập hợp các chiến sĩ. Đủ loại trang bị khác nhau, các súng mút – cơ – tông vẻ bi hùng, súng kiểu Valmy bên cạnh các khẩu Sten và Bren H3. Nhiều người quần áo tả tơi, chân đất, nhưng đó là những con người cứng rắn, mặt rực lửa cách mạng.
Tại Đ. chúng tôi thấy vẫn niềm nhiệt tình hừng hực vì sự nghiệp cách mạng, vẫn những ánh mắt thẳng thắn, tấm lòng ưu ái chân tình cởi mở đó, sau này chúng tôi biết các vị chỉ huy lo lắng không biết nhân dân có đối xử thân ái với chúng tôi không, chúng tôi có thể đảm bảo với các vị chỉ huy là không một giây phút nào chúng tôi thiếu sự ưu ái. Và những biện pháp nhằm đảm bảo an ninh cho chúng tôi luôn luôn làm chúng tôi cảm động. Khắp nơi các chiến sĩ trẻ canh phòng, súng lăm lăm trên tay, vừa có hiệu lệnh báo động người ta đã che dấu chúng tôi giữa rừng sâu. Từ xa người ta báo cho chúng tôi mọi dấu vết đáng nghi ngờ nhỏ nhất. Chúng tôi thường xuyên thay đổi chỗ ở và cuối cùng chúng tôi đến được khu giải phóng. Tại đây vẫn có cảnh giới, nhưng các đêm đều yên tĩnh và không còn chuyện gì bất ngờ xảy ra nữa, trừ những điều bất ngờ tốt lành.
Không bao giờ tôi quên được buổi tối đó. Khi ông Văn (Võ Nguyên Giáp) một vị chỉ huy mà theo chúng tôi là người có quyền hành nhất và kinh nghiệm phong phú nhất – nói cho chúng tôi nghe, với những lời giản dị, mạnh mẽ về những cố gắng bền bỉ nhưng không kết quả của Việt Minh nhằm tiếp xúc với người Pháp và làm cho người Pháp hiểu. Bất hạnh thay họ đã nói chuyện với một chính quyền đế quốc. Chính quyền này đã trả lời họ bằng cách tăng cường các cuộc đàn áp. Quảng đại người Pháp không được biết việc này và cố gắng của những người có cảm tình trở thành bất lực. Chúng tôi thấy cần phải thực hiện một nhiệm vụ cấp bách là thường xuyên kêu gọi những người Pháp còn ở lại Hà Nội hoặc ở nơi khác tại Đông Dương chưa được giải phóng, hãy thức tỉnh trước thực tế đó. Với tất cả tấm lòng, chúng tôi mong ước rằng vào lúc xảy ra những cuộc chiến đấu cuối cùng, những người Pháp này đừng có họat động gì có thể làm hoen ố lịch sử quan hệ Pháp Việt. Chúng tôi khẳng định rằng Việt Nam quyết tâm phát triển các quan hệ bạn bè, đẩy mạnh trao đổi buôn bán, kỹ thuật văn hóa với nước chúng ta, sao cho việc giải phóng Đông Dương là bình minh của một tình hữu nghị mới, thực sự nhân đạo, tài sản quý báu nhất đối với những người có thiện chí của tất cả các nước.
(Maurice và Yvonne Bernard – cựu giáo viên trường trung học Albert Sarraut cùng chấp bút).
12. Theo ký ức ông Vũ Viết Xuyên, một người Tam Đảo, sĩ quan Nhật duy nhất bắt sống dự định xử bắn làm lễ tế cờ mừng thắng lợi, nhưng do tình hình quá gấp, quân Nhật hành quân sắp tới nơi, do đó đã bị bắn tại cột gôn bóng đá phía ngoài sân vận động Tam Đảo. Lính Nhật bị giết đều được chôn cất cẩn thận, kể cả tên “tế cờ” cũng được ông Kinh và một số người đem chôn tại hố cát nhảy cao 5m của SVĐ. Sau khi Nhật tái chiếm Tam Đảo, chúng tiến hành ngay việc tìm kiếm đào bới các xác lính đem thiêu đốt trong khu Toàn quyền.
Nhật phản công rất đông lên Tam Đảo bằng xe cơ giới. Dù ta cho chặt các cây to chặn đường ô tô từ chân suối, nhưng chúng còn đi theo đường suối và đường trên núi. Chúng dọa bắn ông Vỵ, anh Rinh để tìm Việt Minh, bắt ông Kinh mở cửa nhà Tây (biệt thự Les Vacances) để chúng khám xét. Rất may ông Kinh đã xóa hết dấu vết, dọn dẹp cất dấu xoong nồi, mâm bát dùng nấu cơm phục vụ chiến sĩ. Nhật tiếp tục đưa quân lên đông hơn, đóng ở khu nhà binh dành cho sĩ quan quân đội Pháp nghỉ mát trước đây (trên dốc bể con cá) và ở trại lính Lê Dương (phía dưới máng nước thôn 2). Cách mạng tháng 8 nổ ra, Nhật rút về Vĩnh Yên, người Tam Đảo sống tự do từ đó.
13. Câu chuyện tử hình người sĩ quan Nhật cuối cùng của ông Vũ Đức Mai (tức cậu bé Cung ngày ấy).
Nửa đêm, tôi bị đánh thức dậy, được bố mẹ đưa sang một căn buồng chắc chắn mà mùa hè thường có các người là bồi bếp làm cho chủ Tây ở. Khi bố tôi mở cửa chạy ra chạy vào thì nghe tiếng súng và có lúc có tiếng nổ lớn (đến sau này mới hiểu là tiếng lựu đạn của Nhật ném ra).
Trong gian buồng được gia cố bằng 4,5 chồng đệm lấy từ trên nhà chủ Tây ở xuống. Chủ Tây mà bố tôi gác (viết tắt của từ tiếng Pháp gardien – trông coi) nhà cho họ tên là Delsol là chủ chính của 3 nhà: nguyên là chủ của cảng Hải Phòng. Gia đình tôi ở nhà giữa do chủ Chateau thuê gồm có: nhà chính, to rộng do Tây ở vào mùa hè, dãy nhà mái bằng thấp buồng hẹp kề bên cho bồi bếp, nhà nấu bếp và người “gác” ở . Nhìn về phía đồn Nhật, cũng là nhìn về phía thung lũng có bể bơi và sang vành chảo núi có nhà thờ, nhà thống sứ và lên cao nữa là nhà ông Mùi, ông cả Giầu (tức là những người gác nhà) và nhà chủ Hồ Đắc Điềm, sau bán cho tổng đốc Phó Bá Thuận, thì ở bên trái cách trên 100m là nhà chủ Delmat thuê, còn bên phải cũng cách gần 100m về phía dưới đường vào sân vận động là nhà chủ chính Delst ở.
Khi vắng tiếng súng nổ, mẹ tôi nói với tôi “các chiến sĩ đang xông pha vào lửa đạn để đánh quân thù” làm cho đầu óc trẻ thơ của tôi rất ngạc nhiên, vì hàng ngày tôi không bao giờ nghe mẹ tôi nói gì về những từ đó cả.
Và từ những câu đó, tôi dần hiểu ra rằng: những ngày trước đó cậu Cõn (tức Thanh Sơn) người bà con họ xa và các anh con bà gì họ như Minh, Mục (Thạch Sơn, Tam Sơn) dẫn người lạ về một vài lần, vận động tiền đóng góp cho cách mạng, và đưa một vài tờ báo cứu quốc, khổ nhỏ, in trên giấy xấu mầu xanh hoặc hồng để chứng minh số tiền gia đình đã đóng góp. Mẹ tôi thường dặn: “các con không được nói ra ngoài, phải giữ miệng, không thì chết cả nhà đấy”.
Buổi sáng hôm sau, khi tôi dậy thì thấy các anh lính khố xanh đã đi lại từ nhà trên xuống nhà dưới, một vài người nằm trên bệ tường nhà Chateau và chĩa súng về phía nhà Nhật đóng (tôi nhớ rõ đó là một trạm y tế, khi mà chơi công kênh ở trường tiểu học bị vẹo cổ đã phải vào đó nắn bóp). Vì không sợ đạn bắn nên anh em tôi đàng hoàng đứng chỉ cho họ bắn, khi có lính Nhật mở cửa chạy ra, chạy vào giữa nhà trên và nhà dưới của đồn Nhật…
Bố mẹ tôi nấu cơm cho một số binh lính và người tù là những người tham gia trận đánh ăn và nghỉ ngơi ở nhà chính, mà chỉ có mùa hè tây lên ở nghỉ mát.
Chiều hôm đó, tức 16/7/1945, lúc hơi chập choạng tối thì súng lại nổ rền trời cùng một số tiếng nổ lớn, đường điện cao thế sau nhà Nhật bị đứt, chạm vào nhau, tạo thành các chớp lửa như những vạch ngang xanh biếc, đỏ thắm chập chờn làm tỏa rộng một khoảng lớn, tôi còn nhớ phải một lúc lâu mới tắt. Đêm tối hẳn thì nghe tiếng hò hét náo động.
Sáng hôm sau tôi được biết trại lính Nhật đã bị đánh tan và một số lính Nhật chạy trốn ra tối hôm trước đã bị dân chúng chỉ cho Việt Minh truy lùng tiêu diệt. Một người lính trốn giữa vườn hoa về phía hữu ngạn con suối gần cầu “dây thép” (cầu gần nhà bưu điện) khi anh Thạch Sơn thấy dấu vết gần vườn hoa, đi quanh để tìm kiếm địch thì tên Nhật nấp trong đó, ném một quả lựu đạn ra, anh kịp nằm xuống tránh, lựu đạn nổ sướt vào đầu. Anh vùng dậy dùng khẩu Sten bắn chết ngay tên lính đó.
Khi tôi đến cầu dây thép và sân quần vợt cạnh nhà “tòa án” thì thấy anh Thạch Sơn đầu quấn băng trắng vai đeo khẩu Sten rất oai vệ và tôi rụt rè không dám đến gần. Sau đó chúng tôi đi xem súng trường của Nhật khác với súng Mút cơ tông mà hôm trước tôi được các anh lính khố xanh cho xem, và tận mắt tôi còn thấy một khẩu súng máy của Nhật, trên chỗ tiếp đạn có một miếng loe, vuông cứ sắp đầu đuôi đạn bỏ vào là bắn được, cùng các viên đạn của súng Nhật nhỏ hơn đạn của súng Pháp.
Gần trưa chúng tôi ra SVĐ để xem xử tử một viên sĩ quan Nhật, người này từ khách sạn Thác Bạc chạy ra bị ta bắt được, mặc một chiếc si líp và một chiếc áo nâu ta, nghe nói người này lấy của một người dân thường để mặc.
Việc xử tử lúc đó, với chúng tôi được giải thích là sẽ làm lễ tế cờ, nhưng lúc đó đang có tin là quân Nhật sẽ tấn công lấy lại Tam Đảo, nên chỉ có một số người lính của đồn Bảo an binh chịu trách nhiệm xử tử. Người lính Nhật đó bị trói giật cánh khuỷu và ngồi tựa vào một bên chân cột gôn. Chúng tôi phục thái độ bình tĩnh của người sĩ quan Nhật, hình như người đó đã xác định cái chết của mình, nên rất bình thản. Sau phát súng đầu tiên chưa chết hẳn, người đó mở mắt và để tay vào trái tim ý nói người bắn bắn trúng tim cho mình. Người lính bắn phát thứ hai trúng tim và người sĩ quan Nhật gục hẳn xuống.
Sau đó tôi trở về và cả nhà tôi chạy lên nhà bác tôi là nhà sát với bìa núi, dốc ngược về phía trên sân vận động. Ở đó còn thấy rõ lính Nhật từng tốp 7 – 10 người đi quanh bể “Ba – đa”, túa ra từ sau nhà Briteau, một số đi qua vườn “canh nông” lên phía máng trì và một số đi qua sân vận động về phía nhà Zô dép.
Nửa đêm 17 rạng ngày 18/7, bố tôi đưa cả nhà tôi luồn rừng về gần nhà “máy giấy” rồi theo lối giữa khu nhà binh và nhà “Phú Mỹ” để về.
Sáng 18 thì lính Nhật ập vào nhà khám, may mà bố tôi đã kịp vứt các vỏ đạn mà những người lính để lại, chỉ còn đôi dày săng đá, họ hỏi thì bố tôi nói rằng của người Tây dùng bỏ lại. Sau đó bố tôi nói lại, thoát được là do bút đàm với họ bằng chữ Nho.
Một số người chạy về theo đường nhựa bị Nhật bắt được và đưa về cầu chân suối (km13) và bắn chết khoảng 10 người.
Đi theo Việt Minh là một số lính, tù nhân và cả một số người Pháp đi qua “Máng Trì” về đường “Lán than, Quan Chu” sang Đại Từ.
Quân Nhật chỉ dám đến đỉnh dốc đi xuống “Lán than”, ngó xuống một vùng bát ngát, núi đồi, cây xanh và sương mù.
14. Tài liệu về Trung đội giải phóng quân Phạm Hồng Thái 1945 do những người lính – nô lệ nổi dậy ngày ấy còn lưu giữ, viết:
Cảm thấy sự chênh lệch, khinh miệt của một số người Pháp chạy trốn quân Nhật đối với dân bản xứ, một số thanh niên Tam Đảo, những người khổ nhất, can đảm nhất kéo nhau xuống tận chân núi về phía Thái Nguyên phá rừng trổ lúa, đốt than để sinh nhai đồng thời tìm cách tham gia phong trào cứu nước. Chính từ đây cái tên “Lán than” ra đời và Thạch Sơn, Tam Sơn, Ngân Sơn là những người tiên phong có công đầu trong công cuộc ấy.
… Khoảng tháng 4 năm 1945, ta diệt 2 sĩ quan Nhật Moruyama và Hanada và một sinh viên thân Nhật là Nguyễn Thiện Giám ở đình Kỳ Phú, 3 hôm sau hơn 400 quân Nhật từ Thái Nguyên, Đại Từ kéo về khủng bố khu căn cứ giết mất 11 dân chúng, hãm hiếp một số phụ nữ và lấy đi rất nhiều gà lợn. Phong trào đương lên mạnh bỗng bị sụp xuống.
Đến đầu tháng 7/1945, cơ sở quần chúng đã đến giáp Phổ Yên. Mặt binh vận thì toàn thể binh lính khố xanh và phạm nhân ở đồn Tam Đảo đều ngả về ta, kể cả viên đội trưởng. Hàng ngày cán bộ ta vẫn lui tới đồn để huấn luyện chính trị cho binh lính và huấn luyện quân sự cho anh em phạm nhân. Công tác Âu vận cũng có kết quả khả quan, ta đã bắt liên lạc được với một số người Pháp, đáng kể nhất là 2 vợ chồng GS Bernad và một cố đạo T-pha-nho là Gallégo (tên Việt là Tràng Nam), ông này đã ủng hộ bộ đội 1.000USD và một máy chữ. Theo lệnh của đồng chí Võ Nguyên Giáp, điều tra trại Nhật ở Tam Đảo đã đầy đủ, trung đội Phạm Hồng Thái chỉ đợi một đại đội ở cấp trên xuống là phối hợp tiêu diệt Nhật.
Anh em dự trận này chỉ vẻn vẹn có 9 người: Thạch Sơn, Bình Nguyên, Hồ Sơn, Hồng Tâm, Bạch, Trung, Sắc, Kỳ Sơn, Hải Bằng và 2 thiếu sinh Ngân Sơn và Mai Sơn, em lớn nhất chưa đầy 16 tuổi. Vũ khí dùng chung gồm 1 tiểu liên, 3 súng trường, 3 súng săn, 1 số tạc đạn cùng đoản kiếm.
7h sáng bộ đội gặp binh lính và phạm nhân rút lui cách Tam Đảo 2km. 50 anh em vừa binh lính vừa phạm nhân tình nguyện quay trở lại chiến đấu dưới sự chỉ huy của “bộ đội”. Vì vậy số vũ khí vụt tăng thêm 40 khẩu súng trường. 8h sáng các đơn vị đã chiếm được nhà thờ Lục Lộ, đèo Thái Nguyên, nhà dây thép và ngả cây chặn đường Vĩnh Yên – Tam Đảo…
Kiểm điểm lại ta tiêu diệt toàn trung đội Nhật, thu toàn bộ vũ khí gồm 1 súng liên thanh, 1 súng phóng lựu, 80 súng trường (kể cả súng của binh lính Việt), rất nhiều tạc đạn, đạn, quân dụng và hơn 6.000$. Bên ta hy sinh 4 phạm nhân, giải phóng quân chỉ có Thạch Sơn và Hồng Tâm là bị thương vì tạc đạn.
Trung đội Phạm Hồng Thái từ ngày ấy đã để lại một ảnh hưởng vang dội trong các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên và Thái Nguyên. Đài phát thanh Côn Minh đã truyền đi khắp thế giới chiến công này.
15. Khi Tam Đảo bị đốt sập trong lửa đỏ, đã xuất hiện một số bài thơ:
Nhìn cảnh Tam Đảo phá hoại
Ngày xưa non nước lệ mờ
Gót chân vong quốc, bao giờ tới đây
Ngày nay cờ gió tung bay
Ta lên Tam Đảo giữa ngày tan hoang.
Đây thị trấn cuối cùng đang sụp đổ
Dưới bàn tay gân guốc của công binh
Buổi chiều nay, trên sườn đá chênh vênh
Vang tiếng búa tiếng tường rơi, gạch vỡ.
Đang đổ sụp một nguy nga man rợ,
Đang tan bay một sán lạn phù hoa
Lâu đài ơi! Hãy kể lại cho ta
Những đêm đỏ điên cuồng của bày quỷ trắng.
Chúng nhai bao thịt tươi, uống bao máu nóng,
Nhả bao nhiêu xương vụn của dân lành.
Những đêm dài mờ ảo dưới đêm xanh,
Chúng đã nhảy bao nhiêu bài dâm loạn?
Lòng ta sôi sục niềm căm hận
Trộn tủi, pha hờn lẫn xót thương
Ta nhớ những lê dân thủa trước
Đun xe dốc ngược đến chân tường,
Nắng mưa dầu dãi rừng cao vút
Hốc đá nghìn năm gửi nắm xương.
Bài này được coi là của Thôi Hữu và bài 2: đầu đề “Tam Đảo phá hoại” của Thôi Vũ đề do ông Văn sưu Tầm đều giống nhau từ câu thứ 5 trở đi. Bài 3 do một câu chuyện ngẫu nhiên về tam Đảo, một người đã qua lại Tam Đảo, yêu mến Tam Đảo, đã nhớ và biếu tặng cho anh Chuân có thêm 4 câu đầu và riêng câu 13, 14 thì gộp lại 1 câu “Chúng đã nhai bao nhiêu thịt tươi, uống bao máu đắng của dân lành”.
Lại thấy xuất hiện bài “Bán áo vét”, tác giả danh:
Rét xuống dần từ triền Tam Đảo
Người rủ nhau may sắm áo
Chị nhẩm thầm: “may được dăm trăm đồng”
Đủ vốn ngược xuôi, chợ búa gánh gồng,
May một ngày, có lãi hơn cả gạo
Nhất định rồi, nhất định phải bán áo.
Cầm áo len còn biêng biếc mầu tươi,
Lòng xót xa miệng vẫn cố mỉm cười
Trong an ủi để sang năm độc lập
Về thủ đô tha hồ ta may mặc
Chiếc này xem cũng cũ quá rồi đây!
16. Năm 1946, chi bộ xã Tam Đảo mới được thành lập gồm 3 đồng chí: Phạm Văn Loa Bí thư và Nguyễn Duy Bảo, Từ Chinh (ở Cát Xăng).
Năm 1963, chi bộ có số lượng Đảng viên cao nhất: 23 đồng chí.
1947, Pháp tiến công Việt Bắc trong đó có mũi lên Tam Đảo. Dân quân du kích Tam Đảo với vào khẩu súng khai hậu và một số lựu đạn Phan Đình Phùng đã bố trí trận địa ở gốc Sến. Địch bị thương một số, ta hy sinh 2 (Nguyễn Duy Bảo và Trần Mỹ Dư) vì bị đánh tập hậu. Nhà cửa 2 thôn bị giặc đốt hết.
1947 – 1950 rất nhiều trai làng tình nguyện vào bộ đội. 3 anh đã Nam tiến, 2 anh hy sinh trong chiến dịch Tây Bắc và Thượng Lào.
Thanh niên Tam Đảo tham gia quân đội trong kháng chiến chống Mỹ là 28 người, kể cả những người tham gia từ chống Pháp. 3 người hy sinh trên chiến trường B.
Quân đội lập trạm Rađa ở Tam Đảo với khẩu hiệu “giữ Tam Đảo như giữ Cồn Cỏ. 16h 24/10/1967 một F 105 Mỹ rơi ở dãy núi Tam Đảo. 15 dân quân tự vệ đã vượt rừng băng suối 18h tìm kiếm và 8h sáng 25/10 đã bắt thiếu tá Gơ lét Spill cùng trang thiết bị.
Hồ Chủ tịch đã có một bài viết nói về bà cụ Vĩnh ở Tam Đảo, nội dung:
Cả nhà kháng chiến
“Con đi đi, đi đi con
Đánh Tây để giữ nước non Lạc Hồng
Bao giờ kháng chiến thành công
Con về giúp mẹ vun trồng lúa khoai”
Đại khái đó là lời bà cụ Nguyễn thị Vĩnh dạy các con của bà cụ như thế.
Bà cụ Vĩnh quê ở Nam Định. Ngày trước, lên đây làm ăn ở TĐ. Nay tản cư lên Thái Nguyên. Năm nay cụ 62 tuổi.
Bà cụ có 6 người con: 5 trai và 1 gái. Cả 6 người đều ở bộ đội.
Tuy nhà nghèo, bà cụ Vĩnh vẫn hăng hái giúp đỡ cán bộ và bộ đội như con cháu ruột thịt. Bà cụ nói: “Con mình ở bộ đội, đi đến đâu cũng được đồng bào yêu thương giúp đỡ, vậy đối với con cháu đồng bào ở bộ đội, mình cũng phải thương yêu giúp đỡ như con cháu mình”.
Bà cụ Vĩnh chẳng những là mẹ hiền của 6 chiến sĩ con cụ, mà còn là mẹ chung của các chiến sĩ Việt Nam.
Vì cả nhà kháng chiến, bà cụ Vĩnh và các con cụ thật xứng đáng với tổ quốc. Và bà cụ thì xứng đáng là gương mẫu cho các bà mẹ Việt Nam.
(Loại sách “Nói mà nghe” của C.B – Bác Hồ; “Đen trắng rõ ràng” NXB Sự thật năm 1955 trang 28).
16. Năm 1946, chi bộ xã Tam Đảo mới được thành lập gồm: Phạm Văn Loa Bí thư và Nguyễn Duy Bảo, Từ Chinh (ở Cát Xăng). Năm 1963, chi bộ có số lượng Đảng viên cao nhất: 23 người.
1947, Pháp tiến công Việt Bắc trong đó có mũi lên Tam Đảo. Dân quân du kích Tam Đảo với vào khẩu súng khai hậu và một số lựu đạn Phan Đình Phùng đã bố trí trận địa ở gốc Sến. Địch bị thương một số, ta hy sinh 2 (Nguyễn Duy Bảo và Trần Mỹ Dư) vì bị đánh tập hậu. Nhà cửa 2 thôn bị giặc đốt hết.
1947 – 1950 rất nhiều trai làng tình nguyện vào bộ đội. 3 anh đã Nam tiến, 2 anh hy sinh trong chiến dịch Tây Bắc và Thượng Lào.
Thanh niên Tam Đảo tham gia quân đội trong kháng chiến chống Mỹ là 28 người, kể cả những người tham gia từ chống Pháp. 3 người hy sinh trên chiến trường B.
Quân đội lập trạm Rađa ở Tam Đảo với khẩu hiệu “giữ Tam Đảo như giữ Cồn Cỏ. 16h 24/10/1967 một F 105 Mỹ rơi ở dãy núi Tam Đảo. 15 dân quân tự vệ đã vượt rừng băng suối 18h tìm kiếm và 8h sáng 25/10 đã bắt thiếu tá Gơ lét Spill cùng trang thiết bị.
Hồ Chủ tịch đã có một bài viết nói về bà cụ Vĩnh ở Tam Đảo, nội dung:
Cả nhà kháng chiến
“Con đi đi, đi đi con
Đánh Tây để giữ nước non Lạc Hồng
Bao giờ kháng chiến thành công
Con về giúp mẹ vun trồng lúa khoai”
Đại khái đó là lời bà cụ Nguyễn thị Vĩnh dạy các con của bà cụ như thế.
Bà cụ Vĩnh quê ở Nam Định. Ngày trước, lên đây làm ăn ở TĐ. Nay tản cư lên Thái Nguyên. Năm nay cụ 62 tuổi.
Bà cụ có 6 người con: 5 trai và 1 gái. Cả 6 người đều ở bộ đội.
Tuy nhà nghèo, bà cụ Vĩnh vẫn hăng hái giúp đỡ cán bộ và bộ đội như con cháu ruột thịt. Bà cụ nói: “Con mình ở bộ đội, đi đến đâu cũng được đồng bào yêu thương giúp đỡ, vậy đối với con cháu đồng bào ở bộ đội, mình cũng phải thương yêu giúp đỡ như con cháu mình”.
Bà cụ Vĩnh chẳng những là mẹ hiền của 6 chiến sĩ con cụ, mà còn là mẹ chung của các chiến sĩ Việt Nam.
Vì cả nhà kháng chiến, bà cụ Vĩnh và các con cụ thật xứng đáng với tổ quốc. Và bà cụ thì xứng đáng là gương mẫu cho các bà mẹ Việt Nam.
(Loại sách “Nói mà nghe” của C.B – Bác Hồ; “Đen trắng rõ ràng” NXB Sự thật năm 1955 trang 28).
Từ 1955 – 1959 mỗi năm thu hoạch khoảng 6,7 tấn su su, 45.000 quả su su giống cung cấp cho trung du đồng bằng cả nước, xuyên khung 7.500 kg, bạch chỉ 500kg, huyền sâm 6.600kg, bột đao 2 tấn. Tết âm lịch cam quýt Tam Đảo bán nhiều ở các chợ đồng bằng. 1975 giao nhà nước 3.640 kg lợn, cũng là năm làm que kem nhiều nhất mang về Hà Nội: 18 chuyến xe tải. (Làm kem Tràng Tiền đây, hehe). Tam Đảo là vùng núi cao, lương thực và hàng hóa đều phải đưa từ đồng bằng lên. Dân số ít, nhân khẩu nhiều nhất năm 1966 là 478 người, năm 1975 chỉ có 365 người. 1966 HTX đã xây dựng được nhà kho 2 tầng ở đầu dốc khu 2, 1969 xây dựng được trạm xá.
1955 đã quy tập mồ mả liệt sĩ về km 20. Sau đó 4 năm lại đưa về khu vườn của ông Hàn Thùy để tiện việc trông nom thăm viếng.
Dân Tam Đảo vốn có lòng quý chữ, hiếu học. Khi chưa có trường cấp II, cấp II ở TĐ, trẻ con phải trọ học ở Tam Quan, Hợp Châu hoặc Vĩnh Yên – phải đi xa học, bố mẹ lo chạy chật vật, khổ sở rất nhiều. Năm 1959 đã thanh toán xong nạn mù chữ. 1973 mới cùng Nhà nước xây dựng được 4 phòng học khang trang.
10/1955 tỉnh ủy Vĩnh Phúc cử đoàn cán bộ về TĐ phát động quần chúng thành lập khu tự trị Việt Bắc. Do nhận định tình hình sai, tổ chức thực hiện sai, vi phạm quyền lãnh đạo của cơ sở, chủ quan và nhiều mặt không khách quan làm cho chi bộ TĐ chịu xót xa: Chịu quy sai là Quốc dân Đảng 13 người, chi bộ chỉ còn 3 người. Người phải chịu thụ hình là Bí thư chi bộ Nguyễn Duy Hựu hơn 1 năm tại trại tạm giam. Trói buộc, chịu tố giác là Trần Văn Tư, Nguyễn Hữu Thoại, Trần Văn Số. Hai đội viên du kích phải ra tòa là Nguyễn Khả Đạt và Nguyễn Hữu Duyên về việc bắn chết người khi người này trèo qua cổng gác. Chịu khổ sở về chính trị, kinh tế không sao kể xiết.
Tam Đảo đã có gia đình đã qua 4 – 5 đời sống ở đây. Người xưa mở đường phá lối, vai kiệu quan tây trên ghế song loan đến thợ mộc, thợ xây, gánh đất san nền, gác nhà đốt than… người nay làm nghề
Ack ack. Dễ phải đến hơn 2m rồi nhể. Thôi hôm khác pốt tiếp.
Nơi nghỉ ngơi quen thuộc với người Hà Nội mà thấy ít sử liệu công bố về vùng đất này, để bà con nghiên cứu nhá!
Thực tình thì tôi thích Tam Đảo thời trước hơn là sau khi thành khu nghỉ mát
Tưởng nhiều còm, hóa ra toàn của gia chủ, sợ thật, sợ thật. Hơn 2.000 từ một tị là hơi nhiều với phóng sự roài đấy, hehe. Thôi, dành để viết sách về Tam Đảo đi, có khi ối tiền đấy, ăn đứt nhuận bút.
Oài, công nhận dài
. Mà nhất trí luôn với HUYBOM là chân, đùi thẳng thật
)
Cám ơn đã post những thông tin hay về Tam Đảo.
Bài hay đó bác Huy.Ảnh đẹp nữa.