Huy Bom & Sam [Trang chủ]

Những vong hồn trên đỉnh Chư tan Kra

Posted in Uncategorized by huyminh on 04/28/2009

Đất nước đã thống nhất 34 năm, nhưng với không ít người, chiến tranh vẫn còn đó, nguyên vẹn, day dứt, ám ảnh như vừa mới ngày nào. Một ngày cuối tháng ba, 5 “Việt Cộng Bắc Việt” giờ đã là những thương binh tóc hoa râm trở lại Trường Sơn tìm mồ chôn tập thể do Mỹ chôn cất, nơi hơn 200 lính người Hà Nội gốc – đồng đội của họ – đã cùng nằm lại miền đất đỏ Tây Nguyên ngay trong trận đầu nổ súng, mà 41 năm qua, vì nhiều lý do, hiu quạnh chưa một người thăm viếng, chưa một nén nhang của người còn sống.
I.  Đi tìm chiến lệ.

.

Vừa đi vừa tìm đường

1. Một chiếc xe Ford Everet đổ đầy xăng, khởi hành từ Hà Nội lúc trời còn tranh tối tranh sáng, xuyên đường Hồ Chí Minh thẳng hướng Tây Nguyên. Trên xe gồm có 5 người lính cũ của tiểu đoàn 7, trung đoàn 209, sư 312: Hồ Đại Đồng, Phạm Văn Chúc, Phạm Minh Ngọc, Nguyễn Văn Tứ, Nguyễn Văn Vĩnh, có thêm tôi cùng rất nhiều tăng võng, dao phát, đèn pin… và vô số đồ lễ chuẩn bị từ Hà Nội: vàng hương, thuốc lá, cam, có cả can rượu ngon gửi ra từ Hà Tĩnh do tự tay mẹ anh Đồng nấu, khi biết con đi tìm mộ bạn. Đường Trường Sơn xa xôi diệu vợi, thay nhau lái triền miên không nghỉ, để đến kịp giờ nổ súng năm nào làm giỗ, trong cái bồn chồn, nôn nóng được gặp lại đồng đội, cho dù giờ họ đã là người của các thế giới khác nhau. Đêm trước không ai ngủ được. Lật bên nọ, bên kia. 3h sáng, anh Ngọc còn trở dậy nấu cơm ăn một mình, rồi ngồi đợi. Hóa ra, đây mới chỉ là đêm đầu tiên trong chuỗi đêm dài mất ngủ suốt cả cuộc hành trình.
Chuyến đi này được ấn định một cách tình cờ từ cuối năm 2008, khi anh Vĩnh tìm được số di động của anh Đồng – một giám đốc đang làm ăn ở tận Lai Châu. “A lô, có phải Đồng lính mũ sắt Hà Nội đấy không”. “Vâng”. Rồi cúp máy. Hai tiếng sau anh Đồng gọi lại: “Ai vừa gọi lính mũ sắt đấy? Xin lỗi, tôi bị choáng…”. Và những câu đầu tiên hỏi nhau là mấy trăm anh em lính trẻ nằm xuống trong trận đánh đầu đời do Mỹ chôn đã được quy tập về chưa? Chưa thì phải đi tìm, không tìm thấy thì chắc kiếp này bọn mình chết không nhắm mắt.
Lính trận đánh đêm hôm, có lệnh là nổ súng, các chiến trường đều sử dụng ký hiệu bí mật, đâu có biết trận đánh xưa trong rừng thẳm giờ ở nơi nào? Thật may, sau trận đánh M2 – gọi theo tên quân sự, những người còn sống sót được nghe ca sĩ Y Moan da đen trũi tóc quăn tít, khi đó mới chỉ là một cậu bé vị thành niên, hát một bài “Mừng chiến thắng Chư tan Kra”, do nhạc sĩ nào đó soạn vội. Chư tan Kra, Chư tan Kra, cái tên ấy lập tức ăn vào nỗi nhớ, đi theo suốt cả những đời người. Chúng tôi vào Tây Nguyên mà chỉ có trong tay một tờ A4 in ra từ trang web travelingluck.com hướng dẫn khách du lịch, trong đó ghi tọa độ dãy núi  này: 14.4o – 107.7o. Chư tan Kra ở đâu giữa Trường Sơn xanh thẳm núi rộng sông dài?

2. Đường trường biết bao là chuyện. Nghe đâu Chính phủ sắp cho lính phục viên mỗi người một khoản tiền, như tớ 7 triệu, cậu chắc được 10 triệu đưa cho vợ. Chán quá nhỉ, bọn mình ra quân chẳng đứa nào vượt qua được cái đại úy. Các cậu biết không, dạo luyện quân tớ lén lấy mủ xương rồng xát vào cà cho sưng phồng lên, được về thăm nhà mấy ngày đấy. Tớ để lại cho thầy tớ cái mũ sắt để thầy ở nhà tránh bom, còn tớ cứ thế đầu trần mà quay lại đơn vị. Sao hồi ấy cậu không bầy chiêu đó cho tớ? Tớ bầy cho cậu để mà chết cả đôi à? Băng đạn AK tớ toàn lắp một viên phá đi kèm với một viên cháy, thằng nào vô phúc dính phải một loạt của tớ thì chỉ có toi. Tớ còn vác ra suối bắn thử, đạn cháy bắn xuống nước sáng xanh lè, chạy loằng ngoằng các cậu ạ. Mà cái vỏ đạn AK nó bằng thép, tớ ghè thử rồi. Nó không như đạn AR15 nhọn, nhỏ, nhẹ. Mấy chú lính mới cầm súng cũng không biết cách. Phải cầm ngang ra, khi bắn nó mới không nảy lên trời. Mà này, có ai còn nhớ mấy câu thơ về bọn mình hồi ấy không nhỉ? Đầu đội mũ thép/Chân đi dép lốp/ Không được về phép/ Không được ăn thêm.

Ôi mẹ ơi, đi thì hoành tráng thế, vào chiến trường rồi thì khóc này, sốt rét, hắc lào lở loét nữa này, mấy cái băng cứu thương khi rũ ra, giòi rơi ra con nào con nấy cứ béo nung núc. Nhưng nghe bảo vết thương mà có giòi thì lại nhanh lành, lạ thế. Tớ có 3 huân chương dũng sĩ, một diệt máy bay, hai diệt chiến xa, kể mà cho gộp lại thì mình có khi thành anh hùng cũng nên. Còn tớ có cái Huân chương chiến công, thằng cháu bị nhốt ở nhà buồn, nó gấp máy bay liệng luôn qua cửa sổ, không biết rơi đi hướng nào. Không khéo mình thức đêm riết đến bây giờ đâm quen. Dạo ở rừng cao su, cứ đúng 4h sáng là tớ “giải quyết nỗi buồn” phải xong, rồi lại nhảy xuống hầm. Chậm chút là đụng chúng nó lấp ló cũng “giải quyết” bên kia, rồi lại chơi lựu đạn vào nhau, thế có phải khổ ra không? Cho nên cứ phải là đúng giờ. Tớ có kinh nghiệm thế này: mùi nước hoa, mùi thuốc lá thơm là mùi Mỹ, mùi phân ị không lấp là mùi Ngụy, cái bọn ấy sao mà mất vệ sinh thế, ha ha. Này, trong người tớ giờ vẫn còn rất nhiều mảnh đạn nhỏ li ti mổ không hết, không biết là loại gì? Tớ chỉ nghe tiếng nổ “cóc” một cái là đã ngất đi. Cậu dính phóng lựu M79 rồi. Cái tiếng “cóc” ấy chỉ có của “thằng” M79 thôi.

Anh Ngọc kể: vào chiến trường, đi qua thấy một cô người Hoa đẹp quá, tớ còn bỏ hành quân ngồi thụp xuống 1 giờ, chỉ để ngắm cô ấy. Mà này, bọn ở Hà Nội vừa gọi điện chửi tớ. Bảo là mấy thằng “đại gia” trốn đi tìm anh em, không cho chúng nó đi theo, khinh bọn mình mỗi thằng 15 phút; tớ bảo, khuyến mại thêm cho 5 phút nữa đấy, tiền trạm đã rồi khi về tớ kể cho mà nghe. Anh Vĩnh kể: nhập ngũ, mẹ tớ còn dấm dúi cho một đồng cân vàng phòng thân, khâu vào trong cổ áo. Cái áo ấy tớ mặc cho đến tận ngày ra quân, vàng ở chiến trường thì biết tiêu vào việc gì? Anh Chúc kể: mẹ tớ thì cho tớ một củ sâm Cao Ly, bảo là khi thật nguy cấp thì hãy dùng đến. Ai ngờ ngay trận đầu đã dính đạn, dùng sạch.
3. Thoắt vui, rồi lại thoắt buồn. Anh Đồng nói: hòa bình rồi mà tớ vẫn phải lủi thủi gác cái kho đạn suốt cả năm trời không ai đến nhận bàn giao, cho mãi tới 1976 tớ mới nhìn thấy mặt đường nhựa. Anh Vĩnh kể: Có ai biết bài thơ tâm lý chiến thả xuống từ máy bay không? Đây: Con nhớ ngày lên đường xa mẹ/ Theo anh em dấn bước vào Nam/ Non xanh nước biếc chập trùng/ Sớm nắng chiều mưa rừng cơm vắt/ Tuổi thanh xuân cuộc đời như hoa nở/ Vì hòa bình đâu có ngại bước gian nguy… Ý là muốn mình nhớ mẹ, nhớ quê mà trốn ra Bắc hoặc chịu chiêu hồi. Rải đầy rừng, dầy cả gang tay. Hồi ấy có lệnh cấm đọc, có cậu ở đơn vị tớ chấp hành nghiêm chỉnh đến nỗi, đi ị nhưng không dám lấy truyền đơn chùi, dùng nhầm lá han nên bỏng rộp hết cả, lúc hành quân nó chỉ mặc mỗi áo thôi. Ừ, hồi ấy bọn mình chuyển quân bằng cả lối voi đi, cây rẽ sang hai phía hình chữ V, phân còn nóng hôi hổi. Anh Ngọc nói: tớ vào đến Sài Gòn, một bà má nấu cơm cho mấy đứa ăn. Nhìn lên bàn thờ thấy ảnh con má là lính Ngụy, tớ hỏi anh nhà ở đơn vị nào? Bà bảo, nó ở chiến đoàn 52. Tớ rùng mình, chiến đoàn này với bọn tớ quần nhau cả năm trời ở miền Đông, chết không biết bao nhiêu mà kể, ngồi ăn mà cứ lo hão không khéo bà cụ… bỏ thuốc độc! Tôi hỏi: các anh đều là thương binh cả? Anh Ngọc nhìn tôi bằng con mắt phải còn lại: tôi nói thế này để cậu hiểu, mình đã cầm súng lên rồi thì sao bản thân mình lành lặn được? Anh Đồng lại nói: đến bây giờ thì tớ cho rằng, bọn mình đi qua chiến tranh, cứ được sống thêm được một ngày là đã lãi một ngày rồi.
Chiến lệ là các trận đánh, có thể thành hay bại, được tổng kết và biên soạn lại thành bài giảng cho các sĩ quan học, minh hoạ cho một chiến thuật hay một vấn đề nào đó trong trong thực hành chỉ huy chiến đấu, đầy đủ sa bàn, lực lượng hai bên, diễn biến trận đánh cũng như thương vong và dư luận sau đó. Nhưng Chư tan Kra – trận đánh chấn động nước Mỹ (xin nhấn mạnh) – không có chiến lệ. Nó chỉ có trong ký ức mãi mãi không thể nào quên của chừng một trăm người còn sống của tiểu đoàn 7, sư 312 ngày ấy.
(Còn nữa)

[“Lính mũ sắt” là một trong những đơn vị được tuyển chọn đặc biệt, sức khỏe A2 trở lên, lý lịch ít nhất phải là Đoàn viên, và đều là người Hà Nội gốc. Sau khi luyện quân kỹ lưỡng ở Thái Nguyên như cõng đá ngay cả lúc nghe điều lệnh để rèn sức bền thể lực, đánh trận giả ở Hòa Bình… đơn vị bộ binh này được trang bị tối đa các quân trang, khí tài hiện đại nhất thời đó, như mũ sắt của Liên Xô, là đơn vị đầu tiên được sử dụng B41, và chuyển quân bằng xe Giải phóng vào chiến trường. Tất cả họ đều nhập ngũ cùng ngày 27/3/1967, cùng đánh trận đầu tiên trong đời ở Chư tan Kra ngày 26/3/1968 và không ít người trong số họ đã vĩnh viễn nằm lại tại dải núi này. (Ảnh: Ảnh lưu niệm tại gia đình của chiến sĩ Phạm Văn Chúc trước khi vào Nam chiến đấu).]

14 phản hồi

Subscribe to comments with RSS.

  1. hoado said, on 04/28/2009 at 3:13 sáng

    Sao cậu nhớ giỏi thế? Có ghi âm không đấy?

  2. huyminh said, on 04/28/2009 at 4:34 sáng

    Chỉ có ghi chép thôi :D

  3. LQ said, on 04/28/2009 at 4:47 sáng

    Xem tiếp ở đâu?

  4. hihihehe said, on 04/28/2009 at 6:03 sáng

    Đã “đi qua chiến tranh, cứ được sống thêm được một ngày là đã lãi một ngày rồi,” điều này có thể lý giải tại sao những cựu chiến binh ngày ấy bây giờ rất nhiều người thành đạt. Thầy mình cũng thuộc diện “xếp bút nghiên lên đường đánh Mỹ ngày ấy” kể, khi trở về là lao vào học, như muốn bù lại những ngày đã mất. Những ai từng rời mái trường để nhập ngũ đều rất thấm thía câu thơ của Nguyễn Đình Thi: ” Người ra đi, đầu không ngoảnh lại, Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” . ( Nhớ đúng không nhỉ? :) )

  5. anhbasam said, on 04/28/2009 at 2:21 chiều

    Chu choa! Qua nhà mới còn tiếc đám chổi cùn rế rách, ôm theo chi tội quá há? Để thì giờ mà học tập cách trang hoàng nhà cửa sao cho ngon.

  6. lananh said, on 04/28/2009 at 4:28 chiều

    HẰNG CÒI chắc tiếc hùi hụi không được đi cùng rồi! “Chiến lệ là các trận đánh, có thể thành hay bại, được tổng kết và biên soạn lại thành bài giảng cho các sĩ quan học, minh hoạ cho một chiến thuật hay một vấn đề nào đó trong trong thực hành chỉ huy chiến đấu, đầy đủ sa bàn, lực lượng hai bên, diễn biến trận đánh cũng như thương vong và dư luận sau đó. Nhưng Chư tan Kra – trận đánh chấn động nước Mỹ (xin nhấn mạnh) – không có chiến lệ. Nó chỉ có trong ký ức mãi mãi không thể nào quên của chừng một trăm người còn sống của tiểu đoàn 7, sư 312 ngày ấy.” Thích đoạn này nhất.

  7. Trung Hieu said, on 04/29/2009 at 4:27 sáng

    Huy Minh viết tốt lắm. Đọc thích.

    Các bác Viện LS Quân sự mà đọc được bài này khéo lại có ý mời HM về làm Viện phó :)

  8. Linh béo said, on 05/01/2009 at 5:45 sáng

    Ông anh ghi chép hay thế. Thằng em anh đã đi lại con đường ngày xưa cha chú mình đi nhưng không làm sao có thể viết được 1 dòng cảm nghĩ nào cả.
    Cảm ơn ông anh.

  9. [...] vậy, loạt bài “Những vong hồn trên đỉnh Chư tan Kra” của tớ đã thuyết phục được HĐND, UBND TP. Hà Nội. Các vong hồn sẽ [...]

  10. Tin 15-4-2010 « BA SÀM said, on 04/15/2010 at 12:20 chiều

    [...] Mở đường vào Chư tan Kra – blogger Huy Bom với loạt bài “Những vong hồn trên đỉnh Chư tan Kra” phát hiện 200 liệt sĩ từ chỗ 41 năm không một nén nhanh, nay “đã thuyết [...]

  11. Đỗ Tiến Thụy said, on 04/15/2010 at 2:42 chiều

    Kính gửi anh Huy Bom!
    Tôi là Đỗ Tiến Thụy, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
    Tôi đọc bài ghi chép Những vong hồn trên đỉnh Chư tan Kra và có một cảm xúc thật khó tả. Tôi muốn xin anh bài viết này về in trên Tạp chí VNQĐ có được không ạ?
    Tất nhiên anh được hưởng nhuận bút và báo biếu. Nếu anh đồng ý xin liên lạc với tôi theo emaill: thuyvnqd@gmail.com
    Rất mong nhận được hồi âm của anh!
    Kính thư
    Đỗ Tiến Thụy

  12. Linhmusat said, on 04/29/2011 at 3:36 chiều

    Ngày đó khoảng cuối năm 1978 trong K7 E209 còn lại anh Phước lính 1968 Hải phòng , người bé nhỏ nhanh nhẹn và trong chiến dịch HCM anh Phước là đại đội trưởng C2 , thời gian về Sông Bé làm kinh tế 1976 đến 12.1977 thì được lệnh ra BGTN làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc , lúc đó anh Phước là D phó K7 sau đó lên tác chiến E209 .
    Các anh lính trung đoàn mũ sắt có nhớ anh Phước này không ?
    Sang thời lớp đàn em chúng tôi sau này hỏa lực B41 nằm ở cấp C , mỗi C ít nhất 6 khẩu B41, 6 khẩu B40 , trang bị lại vũ khí mới nên hỏa lực cực mạnh . 2 cối 60ly và 2 khẩu đại liên , sau này chiến đấu anh em bị thương hy sinh nhiều hết người mang vác súng phải trả lại bớt súng về trung đoàn bộ .
    C5 K7 vẫn là C hỏa lực của K7 , hỏa lực gồm có 2 cối 82ly , 2 khẩu 12.8ly và 2 khẩu DKZ75ly , ngoài ra trên D bộ có thêm 1 khẩu DKZ82ly chưa kể các C trực thuộc trong E209 cho xuống phối thuộc hỏa lực mạnh .
    Giá như trận Chư-tan-kra các đàn anh được trang bị hỏa lực mạnh như vậy trong tay thì chắc các anh sẽ đánh một trận ròn rã hơn nữa với lính Anh Cả Đỏ .

  13. Ngô Thị Thúy Hằng said, on 02/20/2012 at 11:14 chiều

    Anh Huy Minh ơi! Hóa ra lần anh vào Sài Gòn mà em có gặp anh đó là lần anh đi viết bài về Chư Tan Kran mà em quên mất. Sáng 07/02/2012, tướng Trị cùng Bộ tư lệnh quân khu Thủ đô đã tới thăm Trung tâm em và đề nghị bên em cung cấp danh sách ls hy sinh tại trận đó anh ạ. Nói thật là khi đó em mới tìm thêm về Chư tan Kran và mới biết loạt bài của anh dù đã ngoắc bài về NTDD từ lâu rồi. Cả mộ bộ máy như vậy mà không lấy được danh sách những ai chết hôm đó ra. Thật là tội. Ngày 08/03/2012, e, sẽ bàn giao danh sách những chiến sĩ này cho Ban liên lạc để họ có cơ sở mà khắc bia trên Đài tưởng niệm. Anh rảnh thì ghé qua Hội quán MARIN của em tham quan và tham dự buổi bàn giao này nhé. Em Hằng

    • pham văn Chúc said, on 02/24/2012 at 6:02 sáng

      Thế Huy Minh có đến Marin ngày 8-3 tới đây để nhận bàn giao danh sách liệt sỹ K? Nên đến đi vì “Những vong hồn trên đỉnh chư Tang Kra” đang vào hồi kết mà !


Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 47 other followers